Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân dân làm chủ

TƯ TƯỞNG
NHÂN DÂN LÀM CHỦ ĐẤT NƯỚC, LÀM CHỦ XÃ HỘI,
MỌI NGƯỜI LÀM NGƯỜI
CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH LÀ TƯ TƯỞNG DUY NHẤT ĐÚNG ĐẮN
ĐỂ XÂY DỰNG XÃ HỘI MỚI ỔN ĐỊNH VĂN MINH CỦA LOÀI NGƯỜI
(Khởi thảo 1h08 ngày 24 tháng 1, hoàn thành 22 tháng 4 năm 2012)
(Đã gửi các UVBCT Khóa XI)

Kĩ sư. Đỗ Minh Xuân
Địa chỉ: Điềm Xá, Minh Phượng, Tiên Lữ, Hưng Yên.
Đện thoại: 02213875131 – Di động: 01274538198

Lời Tác giả: Để rút ra được quy luật và viết ra thành lý luận là cả một sự suy ngẫm kỹ càng và cũng là sự tổng kết kinh nghiệm quý báu, trong đó có cả máu và nước mắt, của cả một đời người!

I – NHÂN DÂN LÀM CHỦ ĐẤT NƯỚC, LÀM CHỦ XÃ HỘI, MỌI NGƯỜI LÀM NGƯỜI LÀ XU THẾ TẤT YẾU CỦA THỜI ĐẠI!

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã giành được những thắng lợi vĩ đại:

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (VNDCCH).

Ngày 6-1-1946, tiến hành cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước. Lần đầu tiên trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, cử tri cả nước được tự tay cầm lá phiếu bầu chọn người đại biểu đại diện cho mình.

Ngày 9-1-1946, Quốc hội nước VNDCCH đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên. Tuy chỉ có 70 điều, nhưng là bản Hiến pháp mẫu mực, tiến bộ nhất thời đại: Hiến pháp của Nhà nước do “Nhân dân làm chủ, mọi người làm Người”. Đây là Hiến pháp là Cương lĩnh của Tư tưởng Hồ Chí Minh và trong tương lai cũng là Hiến pháp gốc, là Cương lĩnh vắn tắt để xây dựng xã hội mới ổn định văn minh của loài người.

“Điều thứ 1: Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa.

Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.”

“Điều thứ 21: Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia theo Điều thứ 32 và 70.”

Hiến pháp 1946, Điều thứ 1, xác lập quyền làm chủ của nhân dân, thì Điều thứ 21, đề ra công cụ chính để bảo đảm quyền làm chủ đó.

Thử hỏi, từ xưa tới nay, trên thế giới này đã một nước nào có được điều quy định tương tự như thế trong Hiến pháp?

Cách đây mấy ngàn năm, nhiều triết gia tiến bộ đã nhận ra vai trò quan trọng của nhân dân trong lịch sử. Và đã đưa ra mệnh đề: “Dĩ dân vi bản” – “Lấy dân làm gốc”, làm phương châm trị quốc. Mệnh đề này đã có tiến bộ.Song, nhân dân vẫn chỉ là công cụ để duy trì sự trường tồn của các triều đại.

Nhưng, Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong Hiến pháp 1946, thì nhân dân là chủ thể, là “Vua”!

Tư tưởng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt trên tầm của mọi học thuyết trong đó có học thuyết Mác.

Bởi vì, Mác đến với học thuyết cộng sản là từ tư tưởng: “Mang lại hạnh phúc cho người khác, coi hạnh phúc của người khác cũng là hạnh phúc của chính mình” (Đại ý, trong luận văn của Mác lúc 17 tuổi). Đây chỉ là tư tưởng “làm phúc”, “ban ơn”!

Tư tưởng này của Mác, chưa đủ tầm để cải tạo thế giới! Vì gốc để cải tạo thế giới là cải tạo tư tưởng, cải tạo con người. Tạo điều kiện cho con người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, mọi người làm Người.

Ngay khi nghiên cứu về giai cấp, Mác khẳng định “giai cấp công nhân là giai cấp triệt để cách mạng nhất”. Thì đúng! Nhưng, từ đó suy ra kết luận “chỉ có giai cấp công nhân mới có đủ khả năng giải phóng giai cấp, giải phóng loài người”. Thì sai!

Từ đó mới thấy, không ai khác, chính Bác Hồ của chúng ta đã sớm nhận ra mặt hạn chế, mặt sai lầm của học thuyết Mác.

Năm 1924, lúc đó học thuyết Mác đang thịnh hành, Bác Hồ thời ấy mang tên là Nguyễn Ái Quốc, đã tuyên bố:

“Học thuyết Mác là học thuyết của Châu Âu, mà Châu Âu không phải là cả thế giới. Vì Mác chưa có điều kiện để nghiên cứu văn hóa, lịch sử Phương Đông. Chúng ta có quyền bổ sung vào học thuyết Mác văn hóa, lịch sử Phương Đông.”

Bác Hồ đi tìm đường cứu nước, đã vào Đảng Cộng sản Pháp là đi theo Quốc tế 3, theo học thuyết của Lênin. Nhờ có Lênin bổ sung vào học thuyết Mác, mới có sự ra đời của Liên Bang Xô Viết. Cũng nhờ có Liên Bang Xô Viết, thế giới mới nhanh chóng thoát khỏi thảm họa của chiến tranh phát xít, mới có sự ra đời của các nước xã hội chủ nghia và một loạt nước dân tộc dân chủ.

Thế mới biết, tư tưởng đúng, nhận thức đúng, lý luận đúng và hành động đúng quan trọng đến mức nào trong việc dựng nước, giữ nước và xây dựng xã hội mới ổn định văn minh của loài người!

Đến đây, đã có đủ cơ sở lý luận để khẳng định rằng:

Từ nay trở đi, học thuyết Mác không còn là học thuyết đủ tầm để xây dựng xã hội mới ổn định văn minh! (Kết luận 1 – KL-1)

Tư tưởng nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, mọi người làm Người của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng duy nhất đúng đắn để xây dựng xã hội mới ổn định, văn minh của loài người! (Kết luận 2 –KL-2)

Và qua trải nghiệm lịch sử dựng nước giữ nước của các quốc gia trên thế giới từ xưa tới nay, cũng đã có đủ cơ sở để khẳng định tiếp:

Qua trải nghiệm của lịch sử loài người từ xưa tới nay, thì không một đảng phái chính trị, không một tổ chức, không một cá nhân nào và cũng chưa có học thuyết nào đủ tầm để xây dựng xã hội mới ổn định, văn minh.

Ngày nay, chỉ duy nhất có nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, mọi người làm Người theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới xây dựng được xã hội đó!(Kết luận 3 – KL-3). (“Tôi rủ năm Châu đến đại đồng!” Lời tiên tri này của Bác Hồ đọc ở đền thờ Trần Hưng Đạo tại Kiếp Bạc, Côn Sơn (1946) đến nay đã thấy nghiệm).

Có thể nói, “Quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của nhân dân và quyền làm Người” được xác lập trong Hiến pháp 1946 của nước VNDCCH là thành quả cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Nhưng từ đó đến nay, các lớp kế nhiệm, sau Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã bảo vệ và phát huy những thành quả cách mạng ấy như thế nào?

Năm 1976, với lý do cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, đã tự ý (nhân dân chưa phúc quyết) xóa tên nước VNDCCH (định thay cả Quốc ca, Thủ đô) để đổi lấy cái tên CHXHCNVN chẳng gắn bó máu thịt gì với lịch sử dân tộc. Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nói, thì CHXHCNVN chưa bảo đảm được sự trong sáng của tiếng Việt (“đẹp bông hoa”). Còn tôi cho rằng, các từ CSCN và XHCN chỉ là các từ “mode” đã bị bọn cơ hội chính trị trên thế giới lợi dụng, bôi nhọ từ lâu. Đến mức, mọi người khi nghe đến các từ “mode” ấy cũng phải ghê sợ! Vì không biết đây là CSCN theo kiểu Khơ me đỏ, chỉ có vài năm cầm quyền (3 năm 8 tháng 20 ngày), mà đã lấy cuốc bổ vào đầu gần một nửa số dân (3 triệu/7 triệu người) của đất nước mình. Hay XHCN theo đặc điểm, màu sắc của nước lớn nào đó, “bề ngoài thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao”: muốn “bắt nạt” nước nhỏ nào thì “bắt nạt”, muốn trắng trợn “tuyên bố” nhận phần đất thuộc chủ quyền của nước nào thì nhận, mà nước ta đã và đang là nạn nhân? Hay CSCN, XHCN theo kiểu Việt Nam trong giai đoạn Đảng suy thoái và hậu suy thoái chưa được khắc phục?!

Việc đổi tên Đảng (năm 1930) và đổi tên nước (năm 1976) chẳng là xóa đi truyền thống cách mạng hào hùng của dân tộc? Hay chỉ với việc đổi tên nước CHXHCNVN, mà đã cho là xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam?

Tương tự, trong cải cách ruộng đất (CCRĐ), cách mạng văn hóa (CMVH), cải tạo xã hội chủ nghĩa (CTXHCN)… chẳng đã có hàng loạt sai lầm, gây tổn thất lớn cho đất nước, cho xã hội, cho con người?

Bộ phim “Bí thư Tinh ủy” chẳng đã phản ánh được phần nào thực trạng giai đoạn cách mạng ấy?

Bộ phim “Chủ tịch tỉnh” và bộ phim “Đàn trời” chẳng đã phản ánh được phần nào thực trạng trong giai đoạn cách mạng hiện nay?

Sự kiện “Đoàn Văn Vươn” ở Tiên Lãng, Hải Phòng mới đây chẳng đã phản ánh được phần nào sự thối nát trong bộ máy chính quyền ở cơ sở?

HP-1980, “Điều 2: Nhà nước CHXHCNVN là Nhà nước chuyên chính vô sản…”.Chẳng là khét mùi thuốc súng “giai cấp”?

HP-1980, “Điều 4: Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam được vũ trang bằng học thuyết Mác – Lênin là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam …”,chẳng là sự lũng loạn Hiến pháp, qua sự lũng loạn Quốc hội “cướp” quyền làm chủ của nhân dân?

Nhưng cũng thật là mỉa mai và trớ trêu của lịch sử!

Những kẻ nhân danh Đảng lũng loạn Quốc hội, đưa vào HP-1980, Điều 4 ấy, không phải ai khác, lại chính là những kẻ cơ hội chính trị, tham quyền lực xưa, đã gây ra bao họa lớn cho nước, cho dân, cho con người!

Vai trò làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của nhân dân được nêu trong HP-1980,  1992 đã mơ hồ hóa bằng các ngôn từ “người chủ tập thể” (Điều 3, HP-1980); “Nhà nước CHXHCNVN là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.” (Điều 2, HP-1992).

Quyền làm chủ thực sự của nhân dân được xác lập trong HP-1946:

“Điều thứ 1: Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa.

Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.” Đã không còn.

Thay vào đó, là Điều 4, HP-1980!

Từ điển tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học, NXB Đà nẵng, xuất bản năm 2005): [chủ I d. 2. Người có quyền quản lý, xử lý toàn bộ công việc theo lợi ích của mình].

Theo định nghĩa của TĐTV về từ “chủ” và theo Điều 4, HP-1980 trên thì những kẻ cơ hội chính trị, tham quyền lực nhân danh Đảng mới thực sự là chủ, là “Vua”!

Thật chua xót!

Bằng Điều 4, HP-1980 bọn cơ hội chính trị nhân danh Đảng đã hợp pháp hóa việc “cướp” quyền làm chủ của nhân dân đã được xác lập trong Điều thứ 1, HP-1946.

Thế là, từ đấy, quyền làm chủ của nhân dân được xác lập trong Điều thứ 1, HP-1946 đã phải đặt dưới sự “lãnh đạo” của những kẻ nhân danh Đảng!

Hãy xem xét tiếp. HP-1959, với lý do chiến tranh, tạm chưa đưa quyền phúc quyết vào Hiến pháp. Vậy, HP-1980,1992 đất nước đã thống nhất, sao không khôi phục quyền phúc quyết của nhân dân, mà đưa Điều 4, xác lập quyền làm vua tập thể của Đảng?

Chẳng lẽ, đây là việc bảo vệ và phát huy thành quả Cách mạng Tháng Tám 1945 và củng cố quyền làm chủ của nhân dân của lớp kế nhiệm mới?

Không!

Điều 4, HP-1980, đã thực sự là một cuộc đảo chính phi (phản?) cách mạng, thông qua sự lũng loạn Quốc hội, lũng loạn Hiến pháp của những kẻ cơ hội chính trị tham quyền lực nhân danh Đảng, cướp quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của nhân dân để làm “vua tập thể”!

Những Hiền – Tài, những người cách mạng và các đảng viên chân chính là đại biểu Quốc hội khóa XIII, hãy tỉnh táo không để cho những kẻ cơ hội chính trị, tham quyền lực nhân danh Đảng lũng loạn Quốc hội, lũng loạn Hiến pháp một lần nữa!

Nhiệm vụ của những Hiền – Tài, những người cách mạng và các đảng viên chân chính lúc này là phải bảo vệ bằng được quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của nhân dân, quyền làm Người của mọi người đã được xác lập trong HP-1946, thành quả vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945!

Những người nhân danh Đảng hiện nay thừa biết rằng, với số đại biểu Quốc hội là đảng viên chiếm trên chín mươi phần trăm (90%) và kèm theo “19 điều đảng viên không được làm”, thì thế nào cũng “lãnh đạo” được Quốc hội “Thể chế hóa Đường lối Đại hội XI của Đảng”!

Vậy, Đường lối Đại hội XI của Đảng? Nhân dân làm chủ hay Đảng làm vua tập thể? Với góc nhìn từ HP-1946, thì Đường lối Đại hội XI của Đảng là củng cố quyền để làm vua!

Nếu không là vua, sao lại dám tuyên bố Quốc hội phải thể chế hóa đường lối của Đảng?

Quốc hội là của dân! Phải làm theo ý dân! Mà đã làm theo ý dân thì nhân dân phải có quyền phúc quyết!

Hãy tổ chức tranh luận công khai và hỏi ý dân sẽ rõ đúng sai!

Nhưng tôi vẫn tin, phần lớn các đại biểu Quốc hội có đủ trí tuệ để nhận biết đúng sai và biết mình, lúc nào, cần phải làm gì để xứng đáng là đại biểu trung thành của nhân dân.

Và tôi cũng tin, đến một lúc nào đó, những Hiền – Tài, những người cách mạng và các đảng viên chân chính trong Quốc hội sẽ đủ dũng cảm, đồng lòng vạch trần âm mưu đen tối của những kẻ nhân danh Đảng lũng loạn Quốc hội, lũng loạn Hiến pháp.

Nhiệm vụ cấp bách trước mắt củanhững Hiền – Tài, những người cách mạng và các đảng viên chân chính trong Quốc hội khóa XIII là phải khôi phục tinh thần Điều thứ 21, Hiến pháp năm 1946, khôi phục quyền phúc quyết, công cụ chính đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân. Có thế, nhân dân mới “danh chính ngôn thuận” có quyền phúc quyết Hiến pháp mới! Không một thế lực đen tối nào có thể tước bỏ được quyền phúc quyết của nhân dân!

Không khôi phục kịp thời quyền phúc quyết của nhân dân, sẽ là một tội lớn của các đại biểu Quốc hội khóa XIII!

Ngày nay, nhân dân đã đủ sức và biết cách làm chủ đất nước, làm chủ xã hội bằng Hiến pháp luật do nhân dân phúc quyết, thông qua sự điều hành theo Hiến pháp, luật của bộ máy quản lý Nhà nước, quản lý xã hội của mình.

Hiến pháp, luật sẽ quy định về cơ cấu tổ chức, phạm vi chức năng, mối quan hệ, chức trách nhiệm vụ quyền hạn cụ thể của các tổ chức và từng thành viên trong tổ chức.

Nguyên tắc về mối quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước là phân quyền – không có toàn quyền; độc lập; giám sát –  kiểm tra chéo theo Hiến pháp, luật.

Nhân dân trực tiếp bầu chọn Tổng thống và Quốc hội.

Tổng thống là người đại diện cao nhất của nhân dân, thay mặt nhân dân làm nhiệm vụ đối nội, đối ngoại và các chức năng Nhà nước khác do Hiến pháp, luật quy đinh. Cơ quan giúp Tổng thống làm nhiệm vụ là Phủ Tổng thống.

Quốc hội là cơ quan đại diện quyền lực cao nhất của nhân dân, có chức năng nhiệm vụ: Lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao, quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước theo phân mức, phân cấp và thành lập các cơ quan chức năng Nhà nước (do Tổng thống điều hành) và các cơ quan chuyên trách của Quốc hội.

Trong quá trình thực hiện theo chức năng mà Tổng thống và Quốc hội chưa thống nhất được, thì hỏi ý dân. (Như thế, quyền làm chủ của nhân dân được khẳng định hơn Điều thứ 31, HP-1946).

Theo Hiến pháp, luật, Tổng thống có thể giải tán Quốc hội; Tòa án Hiến pháp có quyền đề nghị Tổng thống giải tán Quốc hội và ngược lại, đề nghị Quốc hội hỏi ý dân về việc bãi nhiệm Tổng thống.

Như thế, Nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội bằng thực quyền trực tiếp bầu chọn và phúc quyết của mình. (Kết luận 4 – KL-4)

Phải bảo vệ bằng được quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của nhân dân, quyền làm Người của mọi người!

Đó là nhiệm vụ hàng đầu của những Hiền – Tài, những người cách mạng và các đảng viên chân chính là đại biểu Quốc hội khóa XIII!

II – ĐẢNG TỰ GIẢI TÁN VÀO NĂM 2021 LÀ NHU CẦU KHÁCH QUAN, PHÙ HỢP VỚI NHÀ NƯỚC DO NHÂN DÂN LÀM CHỦ!

Bản chất đặc thù của các đảng phái chính trị là tranh giành quyền lực. Ngoài thì giữa đảng nọ với đảng kia và trong thì giữa phái này với phái khác. Do đó, ở Nhà nước do nhân dân làm chủ thì không thể tồn tại các đảng phái. (Kết luận 5 – KL-5)

Việc Đảng tự giải tán vào đầu năm 2021, là nhu cầu khách quan, là vĩnh viễn xóa đi cái họa cho nước cho dân cho con người.

Từ nay đến đầu năm 2021, Đại hội Đảng khóa XIII (ĐHĐ-XIII), là khoảng thời gian Đảng hoàn tất các công việc chuyển giao quyền lực cho nhân dân và củng cố hoàn thiện quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của nhân dân, quyền làm Người của mọi người.

Khi Nhà nước do nhân dân làm chủ đã hoạt động nề nếp, thì Đảng (do các đảng viên chân chính) mới chính thức hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình:

Xây dựng thành công Nhà nước do nhân dân làm chủ!

Nhưng không vì thế mà để cho những kẻ cơ hội lợi dụng kéo dài để làm vua!

Vì kéo dài sự tồn tại của Đảng, cũng đồng nghĩa với sự kéo dài cái họa cho nước cho dân cho con người.

Đây là tiêu chuẩnthước đo về tầm nhận thức, về phẩm chất cách mạng của mỗi cán bộ cách mạng nói chung và của mỗi chính khách, mỗi lý luận gia nói riêng.

Và đây, cũng là căn cứ để phân biệt chính, :

Chính, thì hết lòng vì nước vì dân vì con người vì loài người; bảo vệ và phát huy thành quả Cách mạng Tháng Tám năm 1945; loại bỏ sự lũng loạn từ mọi phía, sớm chuyển giao quyền lực cho Nhà nước do nhân dân làm chủ, mọi người làm Người; giữ gìn phát huy truyền thống đoàn kết, nhân ái của dân tộc; thực hiện nền dân chủ nhân dân: “Dân chủ là để cho dân mở miệng nói ra!”

, thì cố nhấn mạnh “giai đoạn quá độ” để kéo dài sự “lãnh đạo” sự “cầm quyền”, sự “làm vua tập thể” của Đảng; chậm khôi phục quyền làm chủ, quyền phúc quyết của nhân dân và trong Đảng thì cố duy trì “19 điều đảng viên không được làm”.

III – NHẬN THỨC VÀ NHỮNG VIỆC CẦN LÀM, ĐẾN ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ XIII – ĐẠI HỘI KẾT THÚC SỰ LÃNH ĐẠO VÀ TỰ GIẢI TÁN.

Trước hết, về mặt nhận thức cần phải thấy được:

Nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, mọi người làm Người là xu thế tất yếu của thời đại! (Kết luận 6 – KL-6, KL- Tổng quát)

Ngày nay, nhân dân đã đủ sứcbiết cách làm chủ đất nước làm chủ xã hội bằng thực quyền trực tiếp bầu chọn và phúc quyết của mình!

Khi nhân dân đã làm chủ thì trong giai đoạn trước mắt, trước khi tự giải tán, Đảng chỉ có thể là công cụ của cách mạng, đày tớ của nhân dân, tham mưu cho Quốc hội.

Cơ chế quá độ, vận hành đất nước đến khi Đảng tự giải tán: Nhân dân làm chủ, Nhà nước là đày tớ, Đảng làtham mưu. (Kết luận 7 – KL-7, KL-Cơ chế quá độ vận hành đất nước)Trước mắt, cần cắt bỏ ngay các tổ chức Đảng song hành với tổ chức chính quyền ở cấp huyện và tương đương cùng các tổ chức Đảng đoàn ở Trung ương và cấp tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương.

Trên cơ sở đó, cắt giảm ngay ngân sách chi cho hoạt động của Đảng xuống bằng một phân ba (1/3) mức hiện nay.

Điều lệ Đảng, phải bỏ ngay các điều xâm hại đến quyền làm chủ của nhân dân, quyền con người, quyền công dân. Các cơ quan nghiên cứu lý luận, phải chuyển sang nghiên cứu hoàn thiện cơ chế Nhà nước do nhân dân làm chủ. Số người chuyên trách công tác Đảng trong các tổ chức đã cắt bỏ, được điều động làm các công việc khác thích hợp. ./.


KHI NHÂN DÂN

LÀM CHỦ ĐẤT NƯỚC,

LÀM CHỦ XÃ HỘI, MỌI NGƯỜI LÀM NGƯỞI

THÌ KHÔNG THỂ TỒN TẠI CÁC ĐẢNG PHÁI

(Khởi thảo 5h10 ngày 20 tháng 6, hoàn thành 10 tháng 7 năm 2012)
(Đã gửi các UVBCT Khóa XI, 8-9-2012, đóng góp cho một số Uỷ viên Bộ Chính trị theo tinh thần Nghị quyết 4 BCH TƯ khóa XI. Nay đã bổ sung(1), (2), (3), (4), (5), (6))

Kĩ sư. Đỗ Minh Xuân
Địa chỉ: Điềm Xá, Minh Phượng, Tiên Lữ, Hưng Yên.
ĐT: 0221.3875131 – DĐ: 0127.4538198

Lời Tác giả: Nhìn thẳng vào sự thật, công khai sự thật là bản lĩnh chính trị của những Hiền – Tài, những người cách mạng.

“Chỉ  được coi là Hiền – Tài, là nguyên khí quốc gia,

khi người trí thức đã có đủ cả ba tồ chất cơ bản là:

TríTâmDũng!”

Về lý luận, trong bài: “Tư tưởng nhân dân làm chủ đất nước làm chủ xã hội mọi người làm Người của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng duy nhất đúng đắn để xây dựng xã hội mới ổn định văn minh của loài người” đã khẳng định:

Bản chất đặc thù của các đảng phái chính trị là tranh giành quyền lực. Ngoài thì giữa đảng nọ với đảng kia và trong thì giữa phái này với phái khác. Do đó, ở Nhà nước do nhân dân làm chủ thì không thể tồn tại các đảng phái. (Kết luận 5 – KL-5)

Bài này, dựa vào hoạt động thực tiễn của đảng trong hơn 80 năm qua, để chứng minh kết luận trên là đúng.

I – NHÌN THẲNG VÀO SỰ THẬT, CÔNG KHAI SỰ THẬT VỀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CỦA ĐẢNG!

Từ ngày thành lập (03-2-1930) đến nay, Đảng chưa có một tổng kết toàn diện nào về sự hoạt động của mình.

Cái được, các tài liệu công khai đã viết nhiều. Bài này chỉ tổng kết những nét lớn về những mặt chưa được.

Trước đây thường thông tin “tô hồng” về sự “lãnh đạo” của Đảng. Những cái hay cái tốt của cách mạng, mà các bậc tiền bối và cả dân tộc đã hy sinh biết bao nhiêu xương máu mới giành được thì bọn cơ hội chính trị, tham quyền lực thuộc các lớp kế nhiệm đã công khai vơ hết cho “Đảng” mà họ nhân danh.

Còn nhân dân, những người làm nên lịch sử, thì họ không hề nhắc tới!

Họ dám đưa vào HP-1980: “Điều 4: Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam được vũ trang bằng học thuyết Mác – Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. …”

Thật trơ trẽn, lì lợm, không biết hổ thẹn là gì!

Nhưng cũng thật là mỉa mai và trớ trêu của lịch sử!

Những kẻ nhân danh Đảng lũng loạn Quốc hội, đưa vào HP-1980, “Điều 4” ấy, không phải ai khác, lại chính là những kẻ cơ hội chính trị, tham quyền lực xưa, đã gây ra bao nhiêu họa lớn cho nước cho dân cho con người!

Từ các minh chứng lịch sử có thể khẳng định rằng: Chính “Đảng”, mà những kẻ cơ hội nhân danh, đã và đang phá hoại, kìm hãm sự phát triển của đất nước này! Đã làm thui chột nhiều thế hệ tài năng và nhân tài của đất nước. Quyền tự do dân chủ và quyền con người đã bị trà đạp nghiêm trọng.(1)Hậu quả đó, lớp kế nhiệm mới,hiện nay, đã và đang khắc phục. Nhưng,sự tồn dư của thế lực nhân danh Đảngcũ vẫntận dụng uy thế và cơ hội cuối cùng để cản phá xu thế tiến bộ này.(1)(Mới cập nhật)

Sự tồn tại và phát triển của đất nước, từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, là do những Hiền – Tài, những người cách mạng và cả dân tộc theo Tư tưởng của Bác Hồ quyết định! Đâu có phải do “Đảng” của những kẻ cơ hội nhân danh!

“Đảng” do bọn cơ hội nhân danh, thì những Hiền – Tài, những người cách mạng và cả dân tộc đã muốn xóa bỏ nó từ lâu! Nhưng họ muồn xóa bỏ nó bằng cách nào cho khỏi “nồi da nấu thịt” mà thôi!

Dưới đây là những minh chứng lịch sử:

Thứ nhất, Ngày 3-2-1930, Bác Hồ đã hợp nhất ba tổ chức cộng sản để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cử Trịnh Đình Cửu là người đứng đầu Đảng với “Cương lĩnh vắn tắt” để thống nhất các lực lượng cách mạng là việc làm hoàn toàn đúng đắn.

Tại sao tháng 10 năm ấy (1930), lúc đó Bác Hồ không có mặt, Trung ương Đảng đã dựa vào nguyên tắc nào (hoặc theo lệnh của ai) mà dám “đảo chính” trong Đảng. Đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương, bầu Trần Phú làm Tổng Bí thư? Với động cơ nào mà các lớp kế nhiệm đã phủ định vai trò người đứng đầu Đảng của Trịnh Đình Cửu và công bồ Trần Phú là Tổng Bí thư đầu tiên?

Phủ định vai trò người đứng đầu Đảng của Trịnh Đình Cửu, là phủ định sự thật, phủ định lịch sử. Đây là hành vi đen tối!

Hành vì đen tối này của bọn cơ hội, chẳng là xóa bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam do Bác Hồ thành lập?

Ai đã tuyên bố: “Trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ”?

Phải chăng đây là “Cương lĩnh vắn tắt” của Đảng Cộng sản Đông Dương? Vậy, đảng này khác nào đảng của Pôn-pốt?

Ai đã đề nghị Quốc tế Cộng sản thi hành kỷ luật đồng chí Nguyễn Ái Quốc?

Mầm mống phản nước hại dân của những kẻ nhân danh Đảng đã ra đời ngay từ những ngày đầu thành lập ấy!

Nhưng với uy tìn lớn, Bác Hồ và các đồng chí kiên trung cách mạng của Đảng như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… đã hạn chế được rất nhiều tác hại của nó.

Nhưng dù sao cũng chỉ là hạn chế! Vì hoạt động của Đảng là theo nghị quyết. Và đã là nghị quyết thì “số ít” phải phục tùng “số nhiều”! Trong thực trạng Đảng như vậy, Bác Hồ thường bị “thiểu số”!

Thứ hai, Lịch sử cần phải làm rõ ông Trường Chinh là người cách mạng mắc sai lầm hay là một kẻ phản cách mạng đã cố “leo cao chui sâu” để chống phá cách mạng?

Năm 1941, tại Pắc-Bó, Bác Hồ đã khuyên can các đồng chí của mình, trong đó có ông Trường Chinh:

“Hãy gác vấn đề giai cấp lại! Bây giờ là vấn đề dân tộc. Nếu dân tộc mà không được giải phóng thì ngàn đời cũng không giải phóng được giai cấp!”

Ông Trường Chinh không nghe! Nên trong CCRĐ đã sát hại bao nhiêu cán bộ kiên trung của dân tộc. Khiến Bác Hồ trong sửa sai CCRĐ cũng phải lau nước mắt để xin lỗi quốc dân đồng bào. Thời nay, thì tội ác này của ông Trường Chính sẽ bị Tòa án Quốc tế xử như thế nào chắc mọi người đã rõ.

Sai lầm trong CCRĐ chưa đủ làm ông Trường Chinh tỉnh ngộ mà vẫn tiếp tục mắc nhiều sai lầm lớn. Đây là cơ sở để nghi ngờ Trường Chinh là phản cách mạng.

Trong CMVH, đã đưa đi cải tạo bao nhiêu nhà văn là “Nhân văn giai phẩm”? Nhiều nhà văn cách mạng, trong đó có Phùng Quán đã phải đi cải tạo suốt 30 năm ròng (1958-1988). Đến nhiệm kỳ của đồng chí Nguyễn Văn Linh mới được tự do.

Trong CTXHCN, bản thân ông Trường Chinh đã không lo cho dân được no đủ mà còn kìm hãm sản xuất phát triển. Như có tiểu chủ thuê vài ba lao động sản xuất ra một ít xăm lốp xe đạp để đáp ứng phần nào nhu cầu cấp thiết của nhân dân thì đã bắt họ bỏ tù (dựa vào luật nào?) và cho đây là phát triển tư bản chủ nghĩa!

Khi Trường Chinh tái nhiệm làm Tổng Bi thư, thì phong trào HTXNN đã lỗi thời. Nó đã bộc lộ sự kìm hãm sản xuất phát triển. Đến mức, người nông dân không còn thiết tha với đồng ruộng, lúa chín không thèm gặt(bộ đội gặt giúp),vì công “âm” (-).

Ai dại gì, đi làm không công mà còn phải bù thêm của nhà?

Thấy nhân dân đói khổ, Kim Ngọc Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú đã băn khoăn, trăn trở: Một mặt nhân những sáng kiến tăng năng suất sản phẩm nông nghiệp của dân, mặt khác lại phải đối phó với “Đường lối” của Đảng.

Không ai khác, chính Trường Chinh đã gián tiếp sát hại Kim Ngọc, Bi thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú. (Xem bộ phim “Bí thư Tỉnh ủy” sẽ rõ).

Khi là Chủ tịch Quốc hội, sau khi đất nước đã thống nhất, sao ông Trường Chinh không lo khôi phục ngay quyền “phúc quyết” của nhân dân mà lại đưa vào Hiến pháp 1980, “Điều 2: Nhà nước CHXHCN VN là Nhà nước chuyên chính vô sản”? Đây chẳng là khét mùi thuốc súng giai cấp? Sẵn sàng bắn bỏ những ai làm trái “Đường lối của Đảng” (ý “Vua”)?

Và Điều 4, HP-1980 chẳng là một cuộc đảo chính phản cách mạng, cướp quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của nhân dân, quyền làm Người của mọi người được xác lập trong Điều thứ 1, Hiến pháp 1946 để làm “Vua tập thể”?

Đã mơ hồ hóa vai trò làm chủ của nhân dân bằng các ngôn từ “người chủ tập thể” (Điều 3, HP-1980) và vô hiệu hóa sức mạnh của nhân dân bằng mệnh đề “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.” (Điều 2, HP-1992) vừa là để “nịnh”, vừa là chia nhân dân ra từng mảng để dễ bề cai trị? Nay, nhiều gia đình đã có đủ công nhân, nông dân, trí thức. Đây chỉ là các dạng lao động.

Thứ ba, Lịch sử cần phải làm rõ, ông Lê Duẩn là người cách mạng thoái hóa biến chất hay là người đã có động cơ muốn “làm vua” ngay từ đầu?

1 – Động cơ của việc nhập tỉnh, huyện? Giáo sư Lê Văn Thiêm đã can ngăn thì Lê Duẩn lại mắng: “Ngu!” “Ngu!”. Vậy, ở đây, ai thực sự là “ngu”?

2 – Động cơ của cuộc Tổng tấn công Mùa Xuân Mậu Thân, 1968?

Bác Hồ và đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ đồng ý: “Coi đây là một cuộc tập dượt, đánh xong rút ngay để bảo toàn lực lượng!” Nhưng ông Lê Duẩn lại muốn giải phóng Miền Nam ngay. Tết Mậu Thân ấy Bác Hồ vừa nghỉ ở Trung Quốc về, còn đồng chí Võ Nguyên Giáp thì đang chữa bệnh ở Hungari.

Tổn thất của cuộc Tổng tấn công Mậu Thân, 1968, không ai khác, chính Lê Duẩn phải chịu trách nhiệm trước lịch sử!

3 – Động cơ của việc đổi tên nước và thay Quốc ca, Thủ đô? Đây là động cơ rõ nhất của ông Lê Duẩn: Muốn làm “Vua Liên bang Đông Dương”!

4 – Động cơ của việc đổi tên nước là CHXHCN VN? Có phải chỉ với việc đổi tên nước ấy đã là xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam? Hay là để mị dân? Hay muốn xóa sạch những gì đã gắn bó với Bác Hồ, với truyền thống cách mạng hào hùng của dân tộc, để trong lịch sử chỉ còn lại tên Lê Duẩn?

5 – Tại sao lại phải cố tình tìm cách bôi nhọ đồng chí Võ Nguyên Giáp, một vị “khai quốc công thần”, là một trong những vị tướng tài thuộc top 10 của nhân loại từ xưa tới nay?

6 – Động cơ việc đề xuất Quốc hội phong hàm Nguyên soái trong đó có mình?

7 – Động cơ của việc muốn toàn quyền nắm quân đội: “Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối toàn diện quân đội”?

8 – Tại sao phải hãm hại ông Hoàng Văn Hoan? Có phải ông Hoàng Văn Hoan đã là cái gai trong mắt ông Lê Duẩn? Vì trong giai đoạn ấy chỉ có ông Hoàng Văn Hoan mới dám gọi: “Bè lũ…”.

9 – Và trong xã hội còn rất nhiều giai thoại về ông Lê Duẩn mà không sao kể xiết. Một trong những giai thoại sau đây về ông Lê Duẩn có đúng không?

Khi Quốc hội thông qua Luật Hôn nhân và gia đình, Chủ tịch Hộị Liên hiệp Phụ nữ nói: “Đã hỏi ý kiến anh Ba (Lê Duẩn) chưa? Thì vị Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ đó đã bị mất chức ngay có đúng không?

Nếu điều này là thật, thì cái “Tôi” của những kẻ cầm quyền quả thật là nguy hiểm cho đất nước, cho xã hội, cho con người!

Ngoài ra, trên nhiều bức tường của hè phố Hà Nội thời ấy đã phản ánh công khai những nỗi bất bình của nhân dân với ông Lê Duẩn.

Thứ tư, Cần xác định rõ, ông Đỗ Mười, tác giả của “19 điều cấm” là người như thế nào?

1 – Động cơ của “19 điều cấm đối với đảng viên không được làm” của khóa VIII?

“Điều 7: Tự ý ứng cử hoặc tự nhận đề cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân… khi chưa được tổ chức Đảng có thẩm quyền giới thiệu hoặc cho phép” chẳng là vi phạm Hiến pháp, vi phạm quyền công dân của đảng viên?

Với “19 điều cấm” này, thì ông Đỗ Mười chưa đủ tầm để xây dựng một gia đình nề nếp gia phong. Nói gì đến người đứng đầu Đảng! Vì trong gia đình mà bố mẹ đã phải cấm đoán con cái đủ điều thì gia dình đó đã băng hoại về đạo đức gia phong.

Hơn nữa, đây là một Đảng cách mạng. Mọi người sống, làm việc theo Hiến pháp, luật!

2 – Có phải trước Đại hội IX, trong lúc giới thiệu nhân sự, ông Đỗ Mười đã nói với đồng chí của mình: “Tôi đưa anh lên được thì tôi cũng hạ anh xuống được!”?

Vậy ông là ai? Đảng chứ đâu phải hàng cá, hàng tôm mà nói năng như vậy?

Thật hổ thẹn, Đảng đã bầu ông Đỗ Mười làm người lãnh đạo đất nước!

II – KẾT LUẬN RÚT RA TỪ CÁC MINH CHỨNG LỊCH SƯ TRÊN

Thứ nhất, Từ “Hiện tượng Trường Chinh”:

1 – Học vấn uyên thâm chỉ là điều kiện cần, nhưng chưa đủ của người trí thức. Khi động cơ thiếu trong sáng, tư tưởng không lành mạnh, thì sự “có  học”có khi lại trở thành họa lớn cho nước, cho dân mà Trường Chinh là một điển hình lịch sử.

Ông Trường Chinh thường tự “hợm” mình, cho mình là người “hiểu biết nhất”, “lập trường giai cấp kiên định nhất”. Nhưng chính ông lại là người “giáo điều” nhất và “bắt chước, theo đuôi” nước khác cũng giỏi nhất! Từ đó cũng gây tổn thất cho cách mạng nhiều nhất!

Trong CCRĐ, Bác Hồ đã nói là “trưng thu, trưng mua ruộng đất của địa chủ” thì Trường Chinh lại đi bắt chước nước khác phát động nông dân “đấu tố”. Khi “âm binh” đã nổi lên thì không kiểm soát được, nên đã sát hại biết bao nhiêu cán bộ kiên trung của cách mạng(2)(Nghe nói, suýt nữa, bố ông Đặng Xuân Khucũng bị “âm binh” trong CCRĐ của ông Trường Chinh bắt!)(2)(Mới thêm). Con số cụ thể chưa được công bố, nhưng biết rằng, trong CCRĐ tổn thất cán bộ lớn hơn nhiều so với thời kỳ họat động bí mật.

2 – Trường Chinh là một người vô cảm! Thấy nhân dân đói khổ không động lòng thương xót! Nhân dân không cam chịu đã tự mình làm cho cuộc sống ấm no thì Trường Chinh lại tìm mọi cách ngăn cản. Cho là: “Trái Đường lối”, sợ giai cấp địa chủ “trỗi dậy” và phát triển CNTB!

3 – Qua đây mới thấy, Trường Chinh hiểu biết rất nông cạn về chủ nghĩa tư bản. Và cũng chẳng hiểu gì về chủ nghĩa xã hội. Bởi tính ưu việt đặc trưng của CNXH là vì con người, thì Trường Chinh lại coi con người “như rơm như rác”.

4 – Tóm lại Đường lối lãnh đạo đất nước của Trường Chinh là “dập khuôn” theo “Chị Hiền”. Đã kìm hãm đất nước phát triển, làm thui chột nhiều thế hệ Hiền – Tài của đất nước. Dẫn đến thua kém bạn bè! Vậy ông là kẻ có tội!(3)(4.Mới thêm).

Thứ hai, Từ “Hiện tượng Lê Duẩn”:

1 – Lê Duẩn không có học như Trường Chinh, nhưng tham vọng làm “Vua” rất lớn. Điển hình nhất là muốn làm “Vua Liên bang Đông Dương”!

2 – Thủ đoạn tàn bạo và nham hiểm:

– Chỉ vì muốn thâu tóm quyền lực mà đã cho nhập tỉnh, nhập huyện để tạo nên sự chia rẽ, bè phái giữa tỉnh nọ với tỉnh kia; giữa huyện này với huyện khác nhằm dễ bề “cai trị”mà sẵn sàng xóa bỏ truyền thống “Văn hóa làng xã” đã tồn tại từ xưa tới nay.

– Phải chăng muốn lịch sử chỉ còn lại tên mình, mà đang tâm xóa bỏ tên nước “Việt Nam dân chủ cộng hòa”, đã gắn bó máu thịt với truyền thống hào hùng của dân tộc do các thế hệ cách mạng tiền bối đã hy sinh biết bao nhiêu xưong máu mới giành được.

– Cũng may mà ý định thay Quốc ca, Thủ đô đã không thực hiện được, nếu không thì ngày nay lịch sử cũng phải thừa nhận Quốc ca, Thủ đô “mới” ấy cũng là của thời Lê Duẩn!

3 – Tâm địa độc ác! Sẵn sàng tìm mọi cách hãm hại hoặc bôi nhọ những ai mà ông Lê Duẩn cho là “nói xấu” hoặc cản đường của mình. Như đã “hành xử” với đồng chí Võ Nguyên Giáp, ông Hoàng Văn Hoan…

4 – Trong việc chỉ đạo cuộc Tổng tiến công Mậu Thân, chứng tỏ tham vọng lớn, nhưng lại rất kém mưu lược!

5 – Qua thông tin vỉa hè, trên tường phố thì ông Lê Duẩn là người đương chức bị nhân dân khinh ghét nhất! Và đến chết, “nấm mồ” của ông dân cũng không để yên!

6 – Mới đây, kỷ niệm 110 năm Ngày sinh,đã ca ngợi “trí tuệ” của ông Lê Duẩn. Vậy, quân phương bắc đánh sang năm 1979, là “trí tuệ” của ông? Thật mỉa mai!

7 – Tóm lại, Lê Duẩn là kẻ có tội với dân với nước! (4)(6, 7 mới thêm)

Thứ ba, Từ “Hiện tượng Đỗ Mười”:

1 – Từ câu nói: “Tôi đưa anh lên được thì tôi cũng hạ anh xuống được!” Thấy rằng, Đỗ Mười là một người thiếu văn hóa!

2 – Qua “19 điều quy định đối với đảng viên không được làm” thì thấy Đỗ Mười thiếu hiểu biết về Hiến pháp, luật. Hoặc cho mình là “Vua” thì muốn phán quyết thế nào cũng được. “19 điều cấm” còn nhằm độc quyền “sắp xếp” cán bộ. Có thế mới thực hiện được việc “bán chức, bán quyền” và dễ dàng ban phát ân huệ cho những người mà mình muốn. Nhiều điều trong đó còn hàm ý bưng bít thông tin, bưng bít sự thật, đe dọa việc công khai sự thật.

3 – Tại sao quyền làm chủ, quyền phúc quyết của nhân dân được quy định trong HP-1946 thì không được khôi phục mà “19 điều cấm” lại tồn tại từ khoá VIII tới nay, khoá XII là năm kỳ Đại hội.(5)(Mới sửa sau Đại hội khoá XII).

Như trên đã nêu, đây thực chất là bọn cơ hội chính trị tham quyền lực muốn có thêm một công cụ nữa để củng cố quyền thế để làm “Vua tập thể”.

Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nói: “Sai lỗi hệ thống” và “Đảng làm Vua tập thể” thực không sai!

III – XƯA ĐÃ VẬY CÒN NAY RA SAO?

Hãy xem người đứng đầu Đảng hiện nay là người như thế nào?

A – Hãy bắt đầu từ hoạt độngcủa ông Nguyễn Phú Trọng trước Đại hội XI.

1 – Bài phát biểu tại Hội đồng lý luận Trung ương ngày 8-1-2008.

Qua bản tin 19 giờ ngày 8-1-2008 trên VTV1, tôi rất băn khoăn về bài phát biểu“đinh hướng” nghiên cứu cho Hội đồng Lý luận Trung ươngcủa nguyên Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương Nguyễn Phú Trọng.

(6) {Nếu phát biểu định hướng về phương pháp nghiên cứu khoa học và quan điểm vì nước vì dân vì con người vì sự tiến bộ xã hội thì đáng hoan nghênh. Nhưng ông lại định hướng là không được đụng đến học thuyết Mác thì đó mới là điều đáng băn khoăn (tương tự như các “định hướng” của ông mà sẽ nói đến ở các điểm sau).

Ở phần đầu đã chứng minh và kết luận:

Từ nay trở đi, học thuyết Mác không còn là học thuyết đủ tầm để xây dựng xã hội mới ổn định văn minh! (Kết luận 1 – KL-1)

Tư tưởng nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, mọi người làm Người của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng duy nhất đúng đắn để xây dựng xã hội mới ổn định, văn minh của loài người! (Kết luận 2 – KL-2)

Nếu ông Trọng định hướng cho Hội đồng Lý luận Trung ương nghiên cứu sâu về  thành quả vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, bảo vệ và phát huy thành quả cách mạng đó và về lý luận cụ thể hỏa việc thực hiện tư tưởng nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, mọi người làm người của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong Hiến pháp năm 1946 thì hay biết mấy! Rất tiếc là ông đã không làm việc đó! Thời đại ngày nay, mà vẫn cố bám lấy cái học thuyết lỗi thời mà từ năm 1924 Bác Hồ đã phát hiện ra những mặt hạn chế và sai lầm của nó:

“Học thuyết Mác là học thuyết của Châu Âu, mà Châu Âu không phải là cả thế giới. Vì Mác chưa có điều kiện để nghiên cứu văn hóa, lịch sử Phương Đông. Chúng ta có quyền bổ sung vào học thuyết Mác văn hóa, lịch sử Phương Đông.”}

(6)(Đoạn này mới thêm các dẫn cứcho rõ và khẳng định hơn)

2 – VTV1, 19h, 01-12-2009, đưa tin Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng nói về “Đảng lãnh đạo toàn diện” và về “mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và Quốc hội”. Là Chủ tịch Quốc hội, người đứng đầu cơ quan dân cử cao nhất, sao ông không khôi phục “quyền làm chủ”, “quyền phúc quyết” của nhân dân, mà lại lo cho Đảng làm “Vua”? Phải chăng, với lời phát biểu ấy thì ông đã chuẩn bị sẵn cho việc làm “Vua” của ông sau này?

3 – Là Chủ tịch Quốc hội, trước tiên là phải bảo vệ và phát huy những thành quả Cách mạng Tháng Tám 1945, bảo vệ quyền làm chủ, quyền phúc quyết của nhân dân được xác lập trong HP-1946. Ông đã không làm những việc đó. Để “nịnh” TBT Nông Đức Mạnh và cũng là “vẽ sẵn mô hình” Quốc hội phải làm khi ông được làm “Vua”: Khai mạc kỳ họp Quốc hội phải mời TBT phát biểu “định hướng” trước! Cũng may, kỳ họp Quốc hội khóa XIII vừa qua đã không mời TBT Nguyễn Phú Trọng “định hướng”.

4 – Là Chủ tịch Quốc hội mà để Thường vụ Quốc hội làm trái quy luật không biết, đã đưa ra dự án “Luật hạn chế cạnh tranh” là tại sao? Hay đây thuộc về trình độ? Thế mà, ông hay đem sự hiểu biết, trí tuệ “ngắn chửa đầy gang” của một vài người, một nhóm người để định hướng vào những lĩnh vực mà hiểu biết của mình rất hạn chế.

5 – Đáng lẽ, Văn kiện Đại hội XI phải đúc rút kinh nghiệm cả quá trình hoạt động thực tiễn của Đảng, thì ông lại chủ quan “khẳng định” “Cương lĩnh 1991” là đúng đắn, nay chỉ cần “chỉnh sửa bổ sung”là nhằm mục đích gì?

6 – Điều lệ Đảng viết: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động…” là thể hiện sự “sáo rỗng” về lý luận. Bởi “Từ nay Học thuyết Mác không còn là học thuyết đủ tầmđể xây dựng xã hộị mới ổn định văn minh”. Còn về Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong HP-1946 là “Nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội mọi người làm Người”. Đâu phải là Đảng làm “Vua” như Cương lĩnh và Văn kiện Đại hội XI xác định!

B – Và xem tiếp các họat động của ông Trọng trong và sau Đại hội XI.

1 – “Dân  chủ là để cho dân mở miệng nói ra!” Tại sao ông không lo mà vẫn cố tình đưa “19 điều cấm” vào Điều lệ Đảng khóa XI? Hay theo ông, dó là dân chủ?

2 – Trước khi Quốc hội họp Kỳ thứ nhất, ông đã cho họp BCHTƯ kỳ 3 để thông qua “19 điều cấm”. Với số Đại biểu Quốc hội là đảng viên chiếm trên 90%, thì đây có phải là “lệnh” cho các đảng viên ấy phải thể chế hóa Đường lối ĐHXI của Đảng? Vậy Đường lối của Đảng là “Dân làm chủ hay Đảng làm Vua”?

3 – Trong việc sửa đổi HP-1992, ông  Trọng “định hướng”: “Chỉ tổng kết và bổ sung Hiến pháp 1992” là nhằm mục đích gì? Có phải là vẫn giữ nguyên Điều 4, Điều 147 (sản phẩm “phản cách mạng” của giai đoạn Đảng suy thoái)? Vậy ông là người “vì nước, vì dân” haylà chỉ muốn làm “Vua”?

4 – Trong việc “Chỉnh đốn Đảng” theo Nghị quyết TƯ 4, ông hy vọng là sẽ xoay chuyển được tình thế? Đó chỉ là mong muốn chủ quan, là ảo tưởng! Bới nó còn tùy thuộc vào “tương quan lực lượng” của từng Chi bộ, Đảng bộ.

Một là, từ ngày thành lập đến nay việc chỉnh đốn Đảng đã thực hiện nhiều lần. Nhưng kết quả cũng chỉ là “hòn đất ném ao bèo” mà thôi! Bởi vì những kẻ cơ hội, tham nhũng thì không bao giờ “tự phê bình, tự giác” nhận tội!

Hai là, vì liên quan đến “tương quan lực lượng” nên nơi nào lực lượng tích cực đông thì mới hy vọng át được cái tiêu cực. Ngược lại thì những người tích cực thường bị cô lập, có khi còn bị khai trừ khỏi Đảng.

5 – Qua theo dõi quan hệ đối ngoại, thì ông Trọng thường “truyền bá” tư tưởng: “độc đảng”, “đổi mới”, “quá độ”… Chưa bao giờ ông Trọng truyền bá tư tưởng:“Nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, mọi người làm Người”của Bác Hồ.

Như vậy, ông Trọng chỉ lo giữ ghế để làm “Vua” chứ đâu có lo cho dân làm chủ!

Kết luận

Bác Hồ đã sớm phát hiện ra quy luật xây dựng xã hội mới ồn định văn minh của loài người. Điều thứ 1, Hiến pháp 1946, xác lập quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của nhân dân thì Điều thứ 21 xác lập quyền phúc quyết, công cụ chính để bảo đảm quyền làm chủ đó! Chính vì những thế lực bất lương, cơ hội chính trị, tham quyền lực như đã dẫn trên mà đất nước ta đã trải qua một quá trình dài đen tối, thua kém bạn bè. Nhân dân thì sống trong “vòng kìm kẹp hà khắc” của những thế lực bất lương đó!

Bài viết này đã chứng minh được việc Đảng tự giải tán là hết sức cần thiết, phù hợp với yêu cầu khách quan của giai đoạn cách mạng nhân dân làm chủ, mọi người làm Người. Có thế, mới vĩnh viễn chấm dứt được cái họa lớn cho nước cho dân cho con người! Có thế, mới tránh được cảnh “nồi da nấu thịt”, mới bảo vệ được uy tín của một Đảng cách mạng do Bác Hồ sáng lập; bảo vệ danh dự cho các thế hệ cách mạng tiền bối.

Trước đây, bọn cơ hội nhân danh Đảng lũng loạn Quốc hội lũng loạn Hiến pháp để hợp pháp hóa việc cướp quyền làm chủ của nhân dân. Thì nay, trách nhiệm của Quốc hội làcũng bằng Hiến pháp, khôi phục quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, mọi người làm Người đã được xác lập trong Hiến pháp năm 1946 và phải bảo vệ và phát huy các thành quả vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nói chung!

Đó là trí tuệ, là lương tri, là trách nhiệm của các Đại biểu Quốc hội! Có thế, các Đại biểu Quốc hội mới thực sự là đại biểu trung thành của dân!

Quốc hội khóa XIII, mà “Đảng” vẫn còn lũng loạn chưa làm được thì Quốc hội khóa khác phải làm!

Đó là quy luật khách quan! ./.

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *