Tự bạch – Kĩ sư Đỗ Minh Xuân

TỰ BẠCH

2017

Tấm ảnh kỷ niệm hồi tôi học ở Hungari. Bác Hồ đến thăm và nói chuyện với cán bộ nhân viên Đại Sứ quán cùng lưu học sinh Việt Nam tại Budapest ngày 7-5-1957 ( X )

I – GIA THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

Tôi là Đỗ Minh Xuân. Theo số Tử vi, sinh giờ Dần ngày 23 tháng Một năm Quý Dậu (8-1-1934). Theo giấy tờ: 06 tháng 01 năm 1934.

Sinh, trú quán: thôn Điềm Xá, xã Minh Phượng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.

Bố tôi là Đỗ Như Ngạc. Sinh năm Nhâm Ngọ (1882). Đỗ Khóa sinh năm 1906. Dân thường gọi là Cụ Khóa (Ngạc). Thạo Nho – Y – Lý – Số. Sống chủ yếu bằng nghề dạy học và làm thuốc bắc.

Bố tôi có hai đời vợ.

Mẹ già tôi là Vũ Thị Tre, người cùng thôn. Bà sinh được 4 người con: 1. Đỗ Thị Phảng (1906 – Bính Ngọ); 2. Đỗ Văn Tích (1909 – Kỷ Dậu): 3. Đỗ Thị Lơ (1912 – Nhâm Tý); 4. Đỗ Thị Phất (1915 – Ât Mão).

Mẹ tôi là Vũ Thị Thiệm. Sinh năm 1900 (Canh Tý), là con gái Cụ Đồ thuộc họ Vũ Công cùng làng. Nhờ thế, mẹ tôi cũng học được đôi ba chữ của Thánh-Hiền. Bà có hai đời chồng. Với chồng trước bà sinh được 1 con gái thì chồng chết. Lấy kế Bố tôi, thì sinh được tôi và em gái tôi là Đỗ Thị Kiểm (1936 – Bính Tý).

Vợ tôi là Vũ Thị Trai. Sinh năm 1932 (Nhâm Thân), là con gái của gia đình có chút nho học. Chúng tôi có 3 người con:

  1. Đỗ Thị Ngần (1954 – Giáp Ngọ), chồng là Đặng Đình Cao (1951 – Tân Mão), quê La Tiến, Nguyên Hòa, Phù Cừ, Hưng Yên, Đại tá quân đội đã nghỉ hưu. Ngần đã chết đầu năm 1992.
  2. Đỗ Văn Hà (1964 – Giáp Thìn), Thạc sĩ, Giám đốc Công ty cổ phần Quản lý Đường sông số 2.
  3. Đỗ Thị Uyên (1969 – Kỷ Dậu), tốt nghiệp Đại học, Trung tá quân đội. Lấy kế chồng chị là Đặng Đình Cao. Đã nghỉ hưu cuối 2016.

Từ nhỏ, 6 tuổi, tôi đã được cha cho theo học chữ Hán, chữ Quốc ngữ, ít chữ Pháp và một số kiến thức văn hoá khác. Với vốn kiến thức ấy, cuối năm 1952, tôi đã đủ trình độ thi đỗ vào lớp 5, niên khoá đầu tiên của Trường cấp II Phù Cừ.

Lúc đó, khu du kích Hưng Yên mới được mở rộng. Đồn bốt của giặc Pháp ở xung quanh vẫn còn nhiều. Nhưng Chính phủ kháng chiến đã quan tâm ngay đến vấn đề giáo dục. Năm đầu Hưng Yên mới có 3 Trường Phổ thông cấp II. Trong đó huyện Phù Cừ và huyện Tiên Lữ có một trường. Khởi đầu mới có một lớp 5 và tôi là Lớp trưởng. Do bị lỡ học hồi giặc Pháp tạm chiếm, nên lớp tôi nhiều anh em đã có vợ, có con, mà tôi cũng là một trong những số đó.

Những năm đầu, không có nghỉ hè, mà nghỉ theo vụ cấy gặt. Ban ngày đi học kết hợp làm ruộng. Ban đêm tham gia bao vây bốt, địch vận, phá đường, gặt lúa quanh bốt giúp dân v.v … Khi địch đến thì cùng với du kích và bộ đội chống càn. Tôi vừa đi học, vừa tham gia công tác kháng chiến. Tại địa phương là du kích, Trưởng thôn, Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính xã; ở trường là Hiệu đoàn phó kiêm Lớp trưởng.

Năm 1956, địa phương tiến hành cải cách ruộng đất. Tôi đang tham gia, thì ngày 26-3-1956 tôi đi học theo giấy báo của Ban Tổ chức Tỉnh uỷ Hưng Yên. Chỉnh huấn chính trị ở Hà Nội xong, thì ngày 20-7-1956, “Ngày Hiệp thương thống nhất đất nước”, theo Hiệp đinh Pari, tôi đi du học ở Hungari. Năm đầu (1956-1957), học tiếng Hung, năm kế (1957-1958), học bổ túc văn hoá hết Trung học phổ thông. Tiếp (1958-1963), học Đại học. Trong quá trình học tập, có một lần tôi được Bộ Giáo dục gửi Thư khen. Tôi tốt nghiệp Hạng ưu Khoa cơ khí, Ngành thiết kế chế tạo ôtô, Trường Đại học kỹ thuật Budapest. Được kết nạp vào Đảng Lao Động Việt Nam tại Chi bộ Đoàn Lưu học sinh Việt Nam ở Budapest ngày 5 tháng 10 năm 1963. Thật vinh dự chung cho chúng tôi, là có tấm ảnh kỷ niệm về Bác Hồ khi Bác sang thâm hữu nghị Hungari năm 1957. (Xem ảnh trang đầu).

Ngày 20-11-1963, tôi về đến Hà Nội. Công tác tại Phòng Thiết kế, Nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo – Hà Nội (cổng chính phố Mai Hắc Đế). Tôi phụ trách thiết kế động cơ Diesel cỡ nhỏ (7,5 CV) cho máy bơm nước. Đã có lần đồng chí Lê Duẩn đến xem chạy thử.

Khi Mỹ dùng không quân đánh ra Miền Bắc, thì ngày 7-7-1965 tôi được điều động vào phục vụ quân đội cùng với 600 kỹ sư ở các nơi về. Học Trường Sĩ quan hậu cần lớp Trợ lý rađa Trung đoàn 3 tháng, được phong hàm lần đầu Trung uý, và về Phòng Kỹ thuật Nhà máy sửa chữa rađa X100 ở Cầu Diễn Hà Nội. Đầu 1966, về Phòng Thiết kế Cục Quân giới, phụ trách An toàn và Cơ điện. Sang đầu năm 1968, tôi được giao mở lớp sửa chữa Tổ máy phát điện và ôtô cho thợ sửa chữa cơ điện các nhà máy quân giới (tại phân xưởng A32, thuộc Z1 sơ tán ở km 17 cách Yên Bái).

Đến tháng 8-1968, tôi được điều về Phòng Trạm nguồn, sau về Phòng Sửa chữa thuộc Cục Quản lý xe.

Tôi có một kỷ niệm khó quên ở Phòng Sửa chữa Cục Quản lý xe.

Cuối tháng 2 năm 1969, Phòng giao cho một kỹ sư, bí thư chi bộ, thiết kế cờ-lê hơi để giảm nhẹ sức lao động cho thợ sửa chữa. Yêu cầu, đên hết tháng 11 năm đó phải xong. Thấy mình có khả năng hoàn thành sớm hơn, nên đã đề nghị Phòng giao nhiệm vụ đó cho tôi và tôi hứa sẽ làm xong trong tháng 5. Mọi người ngạc nhiên và không tin. Tôi liền tháo quân hàm Trung uý đặt xuống bàn và nói : “Nếu tôi không hoàn thành đúng hạn thì các đồng chí cứ tước quân hàm của tôi!” Thấy mọi người còn băn khoăn. Tôi nói tiếp: “Nếu các đồng chí vẫn chưa tin, thì cử đồng chí đó (Bí thư chi bộ) phụ trách tôi, còn tôi chỉ xin một cán bộ trung cấp kỹ thuật giúp việc.”

Tôi được nhận nhiệm vụ, vừa thiết kế, vừa xuống cùng nhà máy Q155 trực tiếp chỉ đạo sản xuất. Chưa đầy một tháng, cuối tháng 3, tôi đã đưa sản phẩm đầu tiên về triển lãm và chạy thử ở trong Thành.

Thấy được mặt mạnh của tôi, nên khi Nhà nước giao cho quân đội sản xuất ôtô, thì đồng chí Vũ Văn Đôn, Đại tá Cục trưởng Cục Quản lý xe đã giao cho tôi là Tổ trưởng tổ thiết kế chế tạo ôtô (rất đúng nghề của tôi) và yêu cầu tôi làm tờ trình để Cục duyệt. Tôi về Phòng Thiết kế ôtô ở Phố Tăng Bạt Hổ Hà Nội. Đầu năm 1971, phụ trách tổ 5 kỹ sư sang nghiên cứu sử dụng xe ở chiến trường Lào (Đại đội 9, Tiểu đoàn 101, Binh trạm 32, Đoàn 559). Khi ở Lào về tôi nhận chức Trợ lý Giám đốc nhà máy sửa chữa Tổ máy phát điện Q155 sơ tán ở xã Thuỵ An, gần Suối Hai, tỉnh Sơn Tây. Nay thuộc Thành phố Hà Nội. Đến cuối 1972, tôi được điều về Phòng Quản lý xe.

Cuối 1972, đầu 1973 tôi là Đoàn phó kỹ thuật Đoàn HC208 đi giao xe cho chiến trường B2 tại kho trên đất Căm-pu-chia (gần 300 xe các loại). Tết này, chúng tôi đón giao thừa tại một ba-ri-e ở Kon-tum.

Giao đủ 100% xe, người và hàng hoá an toàn xong, thì Cục Kỹ thuật B2 (đóng ở rừng cao su Lộc Ninh) đón chúng tôi về ăn Tết muộn.

Giữa năm 1973, khi ra Bắc, chúng tôi được vinh dự chở gỗ quý đồng bào Miền Nam gửi ra xây dựng Lăng Bác. Giấy chứng nhận số 3224 của Ban Bảo vệ Lăng Bác cấp ngày 2-9-1973. (Trong Bảo tàng Hồ Chí Minh có lưu giữ đoạn phim bàn giao gỗ này). Giao gỗ xong tôi lại trở về Phòng Quản lý xe. Tôi đã đề xuất với Cục đưa máy tính điện tử vào công tác quản lý xe máy trong toàn quân (Ngôn ngữ COBOL trên MINSK-32 của LX). Cục đã đồng ý và giao cho tôi làm Trưởng ban Máy tính điện tử.

Sau giải phóng Miền Nam, đến năm 1978, tôi đi các Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, Binh chủng để triển khai công tác này. Riêng tiền phương Quân đoàn 3 lúc ấy (1978), vẫn phải họp dưới hầm, vì ở Sa-Mát pháo địch vẫn bắn tới. (Số đăng ký xe quân đội có thuần 6 chữ số là phục vụ cho việc quản lý xe quân đội. Quân y viện 103 đóng ở Hà Đông xác định kiểu số, màu sắc chữ số và nền biển số nhằm mục đích dễ đọc, ít nhầm lẫn).

Tháng 2 năm 1979, quân phương Bắc đánh sang, các đơn vị thành lập hệ kỹ thuật, tôi tình nguyện xin xuống đơn vị chiến đấu. Cục đã đồng ý.

Tôi được điều về làm Trung đoàn phó kỹ thuật Trung đoàn Bộ binh cơ giới 66 thuộc Sư đoàn Bộ binh cơ giới 304, Quân đoàn 2.

Đầu 1981, tôi được bổ nhiệm phó Chủ nhiệm kỹ thuật Sư đoàn 306/qđ2.

Đầu 1982, tôi về Phòng Khoa học quân sự Quân đoàn 2 và được dự lớp tập huấn về lĩnh vực công tác mới này do Bộ Quốc phòng mở. Cuối năm đó tôi trở về làm Chủ nhiệm kỹ thuật Sư đoàn Bộ binh 306/qđ2 cho đến 30 tháng 6 năm 1986 thì nhận quyết định nghỉ hưu.

Lúc về hưu là Trung tá, Chủ nhiệm kỹ thuật Sư đoàn. Đến năm 2012, được công nhận là cán bộ cao cấp của quân đội và được mời đi dự Ngày 22-12-2012 ở cấp tỉnh.

Với truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, với tính năng động sẵn có, tôi  luôn tích cực tham gia công tác, góp phần xây dựng quê hương.

Tôi đã làm được những việc sau:

1/ Năm 1988, thực hiện Nghị quyết 10, phương án ăn chia HTX lập là 11%, tôi đã đề nghị Đảng bộ giao cho tôi làm lại, thì chỉ phải nộp có 6% sản lượng. Mỗi sào giảm được gần 20 kg thóc, cả xã giảm được gần 120 tấn thóc/năm. Riêng thuế nông nghiệp giảm gần 7 kg thóc/sào, tương ứng 36 tấn thóc/xã, năm, vì trước HTX tính thuế đều hạng 1 cả.

Ngoài ra tôi còn đi đo ruộng đảm bảo công bằng cho dân.

2/ Trong đợt chỉnh đốn đảng năm 1990, tôi nắm được diễn biến tư tưởng của một đảng viên già, (Trịnh Đức Hùng, Thôn Mai Xá, từng trốn nhà đi bộ đội, rồi được nghỉ hưu) ở chi bộ khác, vì tuổi già, huyết áp cao, khi bị kích động, thường không chịu đựng được, nên ức quá, mà đồng chí đó đã làm đơn xin ra khỏi Đảng.

Thấy đồng chí là một đảng viên trung kiên, có tính chiến đấu chống tiêu cực, bảo vệ lẽ phải, nếu để đồng chí ấy ra khỏi Đảng chỉ vì bị ức chế thần kinh của tuổi già, thì đâu còn là đạo đức cộng sản, nên tôi đã dặn một đảng viên, trung tá (Nguyễn Anh Mẫn) mới về nghỉ hưu: “Mai họp chi bộ, ông Hùng sẽ xin ra khỏi Đảng, chú phải giữ bằng được ông ấy lại cho tôi”.

Đúng như dự đoán, ông Hùng đã đưa đơn xin ra khỏi Đảng rồi bỏ về. Đồng chí Mẫn chạy theo khuyên can, ông Hùng mới quay lại sinh hoạt.

Đến ngày làm lễ tặng “Huy hiệu 50 năm tuổi đảng” cho đồng chí Hùng, tôi nói với đồng chí Mẫn: “Nếu hồi đó không giữ đồng chí ấy lại, thì ông Hùng làm gì có ngày hôm nay”. Đồng chí Mẫn nói: “Nếu anh không dặn trước, thì hôm đó em cũng chưa biết làm thế nào!”

3/ Năm 1992, có một CCB xã bạn (Phạm Văn Đậm, xã Cương Chính) chỉ nhắc lại câu nói của dân về một cán bộ thanh tra của huyện không liêm là: “Tưởng ai! Chứ ông này dân gọi là “Mèo mũi đỏ vồ gà”, mà hôm nay tôi mới gặp mặt”! Thế mà bị xử tù 6 tháng án treo, 12 tháng thử thách (Khoản 2, Điều 116 BLHS). Tại Toà án phúc thẩm Hải Hưng 14-9-1992, căn cứ vào khoản 3, Điều 8 BLHS, tôi tuyên bố: “Phạm Văn Đậm vô tội!” Bản án số 116, 14-9-1992 đã “y án”. Bản án số 27/HSGĐT, Tòa án NDTC đã hủy bản án phúc thẩm và cũng tuyên bố: “Phạm Văn Đậm vô tội!”

4/ Là Chủ tịch Hội CCB xã 3 khoá (I – III, 21-12-1990 – 12-9-2001), tôi đã góp phần xây dựng phong trào địa phương như sau:

1 – Tôi đặc biệt quan tâm đến giáo dục thế hệ trẻ.

  1. a) Minh Phượng là một trong những xã có phong trào khuyến học sớm nhất tỉnh (1991), là một trong những chi hội thành viên dự Đại hội lần thứ nhất Hội khuyến học tỉnh và tôi cũng là một trong những hội viên được cấp thẻ đợt đầu và dự Đại hội lần thứ nhất này. Hàng năm, tôi đều có quà cho các cháu học sinh giỏi, học sinh thi huyện, tỉnh. Riêng năm 2001, Minh Phượng được mùa thi, tôi đã phối hợp với địa phương tổ chức gặp mặt và phát phần thưởng, có mời truyền hình Hưng Yên về đưa tin và chụp ảnh kỷ niệm cho các cháu. Riêng đợt này tôi đã bỏ ra hơn một triệu đồng. Nếu tính từ ngày đầu, tôi đầu tư cho khuyến học gần mười triệu đồng (hồi đó).
  2. b) Để thu hút thanh thiếu niên vào sinh hoạt lành mạnh, tôi đã đầu tư cho phong trào thể dục, thể thao nói chung và bóng chuyền nói riêng. Hai lần đầu tư cho 5 đội trong xã, từ A đến Z, (còi, luật, bóng, lưới, quần áo, giải …) tới hơn chục triệu đồng. Chỉ riêng đầu tư cho mùa giải năm 1999 (đăng cai điểm tổ chức thi đấu cho huyện) đã trên 5 triệu đồng (cây vàng).

2 – Trong công tác DSKHHGĐ, tôi đã ủng hộ cho mỗi ca đinh sản bằng phầu thuật nữ 50 ngàn đồng, nam 100 ngàn đồng. UB DSKHHGĐ TƯ đã tặng tôi “Huy chương Vì sự nghiệp dân số”.

3 – Tôi đã chủ động đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Hội CCB huyện đã tạo điều kiện cho tôi mở rộng công tác khuyến nông này ra khắp huyện Phù Tiên. Tôi đã viết tài liệu, đi nói chuyện và triển khai cụ thể xuống Hội CCB các xã trong huyện.

Đã đưa được hơn chục tấn giống mới có năng suất cao (DT10, DT11…) vào đồng đất Phù Tiên vụ chiêm xuân năm 1992. Năng suất lúa Minh Phượng nói riêng và Phù Tiên nói chung được như ngày nay cũng có công đầu của Thường vụ Hội CCB huyện Phù Tiên trước đây, mà tôi đã là người trực tiếp thực hiện. Việc làm này, đã góp phần thiết thực nâng cao đời sống hội viên CCB và đời sống nhân dân trong vùng nói chung.

4 – Dân làm vụ Đông 1999, bị chuột phá hoại. Thấy có nguy cơ dân bỏ không làm cây vụ Đông, tôi đã động viên các đồng chí bí thư chi bộ lũy tre xanh, nếu nơi nào tổ chức tốt việc diệt chuột tôi xin ủng hộ 200 ngàn đồng. Riêng chi bộ lũy tre xanh nơi tôi ở thì ủng hộ một triệu đồng. Song năm ấy không chi bộ nào làm được. Nhưng tôi vẫn ủng hộ mỗi chi bộ 200 ngàn đồng và đề nghị các đồng chí cố gắng làm đừng để dân bỏ mất vụ đông. Sau này việc tổ chức diệt chuột đã thành công.

5 – Tôi còn gợi ý các Chi bộ lũy tre xanh gây quỹ nghĩa tình, tôi lại là người ủng hộ đầu tiên để “gây men” cho mỗi chi bộ 50 ngàn đồng, riêng chi bộ nơi tôi sinh hoạt là 100 ngàn đồng.

6 – Tôi ủng hộ cho mỗi Chi hội phụ nữ 50 ngàn đồng, riêng Chi hội nơi tôi ở là 100 ngàn đồng cho quỹ vì phụ nữ nghèo.

7 – Năm 2005, thành lập Câu lạc bộ Cựu quân nhân (CLB CQN).

Khi còn là Chủ tịch Hội CCB xã, tôi đã đề nghị trên cho thành lập tổ chức này, vì CQN là lực lượng đông đảo đã qua rèn luyện trong quân đội, nay họ thực sự là lực lượng nòng cốt cho việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ ở địa phương (Nếu biết khai thác).

Vì chỉ là tổ chức CLB, nên anh em phải tự đóng góp để trang trải. Để động viên phong trào, tôi đã hứa mỗi năm ủng hộ 100 ngàn đồng cho đến khi tôi qua đời. Để đơn giản, sau tôi quyết định ủng hộ hẳn một triệu đồng để CLB cho vay lấy lãi thay cho việc tôi đóng góp hàng năm và khi tôi qua đời số tiền đó vẫn sinh lãi tiếp cho CLB.

5/ Điện ở xã Minh Phượng có từ năm 1968, phục vụ cho 3 sân kho của HTXNN. Khi chuyển sang phục vụ điện sinh hoạt, thì mạng cũ không còn phù hợp. Lúc đầu dân tự lo kéo điện về nhà mình bằng mọi giá và bằng những gì có thể. Dây thì đủ loại chắp nối, thậm chí cả dây trần, nhà nọ kéo qua nhà kia, trên cây, trên rào, qua nhà, qua ao, qua vườn. Đã có người chết vì điện. Tổn thất điện năng quá lớn. Lúc đầu giá 700 đ/kwh, sau lên 1000 đ/kwh, mà ai làm cũng bị thua lỗ phải bỏ cuộc.

Cuối cùng, sau khi thống nhất trong Đảng uỷ, đồng chí Bí thư Đảng uỷ xã đã đến nhà động viên tôi:

“Bác còn khoẻ năm nào thì giúp địa phương năm ấy, cố gắng hoàn thiện mạng, đào tạo đội ngũ và đưa công tác quản lý vào nề nếp, để sau này ai làm cũng được!”

Tôi tâm đắc với sự động viên ấy, nên đã vui vẻ nhận lời và nói:

“Việc tháo gỡ này không thể một sớm một chiều, mà phải có thời gian, nếu giao cho tôi dài hạn thì tôi mới dám nhận và mong các đồng chí ủng hộ cùng tháo gỡ khó khăn chung!”

Cẩn thận hơn, đồng chí Bí thư Đảng uỷ còn hỏi thêm con trai tôi:

“Địa phương muốn nhờ ông ra tháo gỡ điện phục vụ sinh hoạt cho dân, thì ý chú thế nào?”

Con trai tôi trả lời chân thành:

“Nếu Bố em đã nhận lời, thì em cũng nhất trí. Nhưng em chỉ mong có một điều là phải tạo điều kiện giúp và đừng làm nhục Bố em!”

Là con nhà kỹ thuật, tôi đã vạch ngay kế hoạch ba bước:

Bước một: Cho điện 24/24.

Chỉ sau một tháng, tôi đã cho điện liên tục 24/24, thay cho có 4 tiếng buổi tối mỗi ngày.

Bước hai: Đưa điện an toàn và chất lượng đến mọi nhà.

Bằng vốn tự có, vốn vay, vốn huy động trong dân, được đến đâu làm đến đó. Tính đến 21-10-2003 (ngày tôi bị cướp quyền quản lý mạng), tôi đã đầu tư khoảng 200 triệu đồng để hoàn thiện mạng bằng cột bê tông, dây bọc vào các xóm ngõ. Nhờ đó mà chất lượng điện tăng, (nơi xa nhất vào giờ cao điểm điện áp trên 200 V), không xảy ra một vụ mất an toàn nào, được Điện Lực Hưng Yên khen thưởng hai năm liền (1998, 1999).

Từ đầu 1997 trở đi Tết nào tôi cũng cho vài chục ngọn đèn đường. Từ đầu 2003 tôi đã để đèn đường suốt đêm trong năm. (Nhờ có đèn đường, đã phát hiện kịp thời và cứu sống được 3 mẹ con người dân bị xe máy gạt ngã xuống sông, đồng thời cũng góp phần giữ gìn trật tự an ninh thôn xóm).

Bước ba: Giảm giá điện cho dân xuống giá trần khi trả hết nợ. Trước tiên trả lại tiền dân đã tạm ứng cho tôi làm các đường điện xóm. (Trừ tiền điện dần đến hết nợ).

Từ tháng 5-2003, Doanh nghiêp tư nhân điện Minh Xuân ra đời, tôi đã bán theo giá trần 700 đ/kwh.

Ngoài những việc trên, tôi còn làm được nhiều việc khác nữa, mà ngoài Phát thanh huyện, thì Phát thanh và Truyền hình Hưng Yên, cũng đã nhiều lần đưa tin về những việc làm đó. Riêng Truyền hình Hưng Yên cũng đã giành hẳn một chuyên mục 15 phút, biểu dương việc làm điện của tôi.

6/ Tôi nghỉ Chủ tịch CCB (9-2001) và bị “cướp quyền” làm điện ngày 21-10-2003. Đầu 2003, tôi bị não nhẹ, méo mồm rụt lưỡi nói ngọng mất nửa năm. Giữa 2006, phải mổ tuyến tiền liệt. Ngày 10 tháng 4 năm 2010, tôi đi đái ra máu vì bị K tuyến tiền liệt, cấp cứu ở Việt Đức 25 ngày.

Khi ra viện, mặc dù sức khỏe chưa hồi phục hẳn, thấy địa phương triển khai làm đường bê tông bằng vốn tài trợ của Tầm nhìn Thế giới, trong đó Tầm nhìn chi 1/2 và nhân dân đóng góp 1/2. Tôi rất quan tâm.

Đợt này, theo dự án, thôn Điềm Đông làm 421 m đường bê tông dày 15 cm và rộng 2,5 m. Dự toán hết khoảng 140 triệu đồng.

Trong một buổi tối trước khi triển khai làm, ngồi chơi ở nhà tôi có đồng chí Trưởng thôn và Giám đốc về làm cầu đường bộ trong địa bàn tỉnh người cùng làng.

Qua tư vấn, là đường giao thông nông thôn cho ô tô qua lại được, thấp nhất là phải rộng 3 m và dày 16 cm và nền đường phải được lu lèn theo yêu cầu. Thế mà địa phương đã làm dự án bê tông mặt đường rộng 2,5 m, dày 15 cm. Nền đường thì dùng thủ công: té cát, đầm tay, rồi rải bê tông.

Nghe tư vấn xong, tôi rất băn khoăn về chất lượng con đường:

“Lần đầu tiên, thôn làm đường, với đồng tiền nhân dân phải bòn mót từ công bóc 1 kg long nhãn, từ công xếp những tập vàng giấy mà vừa làm xong đã hỏng thì phí quá. Hơn nữa, “Tiền đầu bất lợi” thì phong trào sẽ thui chột mất!”

Không chần chừ, tôi nói với Trưởng thôn: “Đường sẽ làm rộng 3 m và dày 16 cm. Khối lượng bê tông dôi ra bao nhiêu tôi xin bù bấy nhiêu. Nhưng với điều kiện là tôi phụ trách và chịu trách nhiệm về phần chất lượng con đường. Còn đưa tiền cho người khác để rồi muốn làm thế nào cũng được, thì một xu tôi cũng không chi”!

Khi họp dân để triển khai, tôi đã xin phép dân là cho được đóng góp và tham gia như đã nêu trên. Nhân dân hoan nghênh. Mặc dù đã gần 80 tuổi, tôi vẫn là bên B nhận đổ bê tông 421 m ruột đường rộng 3 m và dày 16 cm.

Ký kết xong, ngay hôm sau máy múc về cạp vệ các điểm sung yếu hai bên ao, máy gạt mặt đường theo độ dốc thiết kế và đổ cát lu lèn theo yêu cầu đảm bảo chất lượng. Khoảng 100 m chỗ độ rộng cho phép, tôi đã đổ rộng 3, 5 m, còn độ dầy hầu hết là trên 16 cm có chỗ lên tới 21 cm.

Chất lượng con đường thật là mĩ mãn! Nhân dân hết sức phấn khởi!

Khi kết toán công trình, phần ruột đường tôi đã bù thêm 36 triệu đồng, nề đường và cống rãnh tôi làm thêm gần 30 triêu đồng. Tôi làm đơn vay Ngân hàng 60 triệu đồng, trừ vào lương hưu của tôi (4,4 triệu đồng) mỗi tháng 3,9 triệu đồng. Nhưng Ngân hàng chỉ cho vay có 40 triệu đồng.

Nếu tính cả lãi thì chi cho đợt làm đường này, cả bù ruột đường, làm 100 m nề đường hai bên và rãnh thoát nước tôi đã bỏ ra ủng hộ hơn 70 triệu đồng.  Huyện đã yêu cầu tôi báo cáo thành tích để khen thưởng.

7/ Từ Đại hội Đảng X, tôi đi sâu nghiên cứu lý luận và đã viết nhiều bài tham góp cho Đại hội X, Đại hội XI và Quốc hội khoá XII, XIII. Đặc biệt, đã đề nghị TVQH khóa XII dừng kịp thời “Dự án Luật hạn chế cạnh tranh”.

Viết cho các đại biểu dự Đại hội X đã được Ban Tổ chức Trung ương phúc đáp và một số cá nhân phúc đáp qua điện thoại. Viết cho BCHTƯ và HĐLLTƯ được HĐLLTƯ phúc đáp. Viết cho các đại biểu Quốc hội và các đoàn đại biểu Quốc hội cũng được một số đại biểu phúc đáp qua điện thoại và thư. Và một số đoàn đại biểu Quốc hội có thư phúc đáp. Các thư phúc đáp tôi còn lưu giữ đầy đủ.

Giai đoạn này, về mặt nhận thức, tôi đã có những chuyển biến về chất:

A – Về Nghiên cứu Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút ra các kết luận:

1- Từ nay, học thuyết Mác không còn là chủ thuyết đủ tầm để xây dựng xã hội mới ổn định, văn minh! (KL – 1)

2- Tư tưởng nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, mọi người làm Người của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng duy nhất đúng đắn để xây dựng xã hội mới ổn định, văn minh của loài người! (KL – 2)

3- Qua trải nghiệm của lịch sử loài người từ xưa tới nay, thì không một đảng phái chính trị, không một tổ chức, không một cá nhân và chưa có một học thuyết nào có đủ tầm để xây dựng xã hội mới ổn định, văn minh.

Ngày nay, chỉ duy nhất có nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, mọi người làm Người theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới xây dựng được xã hội đó! (“Tôi rủ Năm châu đến đại đồng!” Lời tiên tri này của Bác Hồ ở đền thờ Trần Hưng Đạo tại Kiếp Bạc, Côn Sơn (1946), đến nay đã thấy nghiệm). (KL – 3)

4- Nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội bằng thực quyền trực tiếp bầu chọn và phúc quyết của mình. (KL – 4)

5- Bản chất đặc thù của các đảng phái chính trị là tranh giành quyền lực. Ngoài thì giữa đảng nọ với đảng kia và trong thì giữa phái này với phái khác. Do đó, trong xã hội do nhân dân làm chủ, thì không thể tồn tại các đảng phái. (KL – 5)

6- Nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, mọi người làm Người là xu thế tất yếu của thời đại! (KL-6)

7- Cơ chế quá độ vận hành đất nước từ nay đến khi Đảng tự giải tán: Nhân dân làm chủ, Nhà nước là đày tớ, Đảng là tham mưu. (KL-7)

B – Về Kinh tế thị trường đã rút ra các kết luận:

  1. a) Quy luật Chuỗi vòng “ren” logic về mối quan hệ tổng quát của nền kinh tế:
  2. Có việc làm ổn định – 2. thu nhập tăng – 3. đời sống khá giả – 4. sức mua tăng – 5. kích thích sản xuất phát triển – 6. tạo thêm nhiều việc làm – 1. có việc làm ổn định.

Mà sản xuất phát triển là quyết định “bước ren” logic ấy!

(Rút ra kết luận này vào cuối tháng 5-2009)

  1. b) Về tính cạnh tranh của nền kinh tế thị trường:

Cạnh tranh là bản chất đặc trưng và cũng là quy luật vận hành của nền kinh tế thị trường.

Nhưng cạnh tranh lành mạnh mới là bản chất ưu việt đặc trưng của nền kinh tế đó.

(Rút ra kết luận này vào đầu năm 2009)

  1. c) Quy luật vận hành – điều hành nền kinh tế thị trường lành mạnh, hiệu quả:

Điều kiện tiên quyết để vận hành – điều hành nền kinh tế thị trường lành mạnh, hiệu quả là Nhà nước phải điều chỉnh hành vi tham lam, tính ích kỷ của các doanh nghiệp bằng Luật Lợi nhuận và Phân phối lợi nhuận.

Đồng thời, nhà nước vừa phải có cơ chế loại bỏ các yếu tố nhiễu, chủ quan duy ý chí, sự lũng loạn từ mọi phía; vừa phải dự đoán dự báo chính xác điều hành linh hoạt, kịp thời bảo đảm cho nền kinh tế phát triển lành mạnh, hiệu quả.

(Rút ra kết luận này lúc 20 h, ngày 9-2-2010)

C – Về Hiến pháp, do tôi dự thảo, Hiến pháp 2007 có 13 chương 135 điều (gửi 493 đại biểu QH khóa XII); Hiến pháp 2013 có 7 chương 139 điều (gửi các Đoàn ĐBQH, Thường vụ QH và đoàn thư ký kỳ họp QH, QH khóa XIII).

D – Về nhận thức của tôi cũng có nhiều chuyển biến mới:

  1. a) Về nhận thức chung:

Muốn làm gì thì làm, nhưng trước hết hãy làm Người! Công dân phải được hưởng đầy đủ quyền cơ bản của con người chân chính, đó là quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Thiếu những quyền đó, thì thực sự chỉ là những kẻ nô lệ (kiểu mới) mà thôi!

Muốn nói gì thì nói, nhưng chỉ được phép nói sự thật có lợi cho đất nước, cho xã hội, cho con người; phù hợp với lẽ sống và đạo lý làm người!

Muốn viết gì thì viết, nhưng chỉ được phép viết sự thật nhằm động viên khuyến khích mọi người sống, làm việc theo Hiến pháp, luật; tạo nên mối quan hệ xã hội hài hoà, đồng thuận, đầy tình người!

Muốn lý luận gì thi lý luận, nhưng lý luận đó phải vì nước vì dân vì Con người vì Loài người!

Muốn chủ nghĩa gì thì chủ nghĩa, nhưng phải làm cho “Nước mạnh, dân giàu; Xã hội dân chủ công bằng ổn định văn minh; Con người tư do bình đẳng hạnh phúc”!

Tóm lại, muốn làm gì thì làm, muốn nói gì thì nói, muốn viết gì thì viết, muốn lý luận gì thì lý luận, muốn chủ nghĩa gì thì chủ nghĩa, nhưng đừng để thua kém bạn bè!

Hãy nhìn thẳng vào sự thật, liên hệ với các nước trong khu vực, trước đây, đã một thời, họ cùng cảnh ngộ như ta, thậm chí có nước còn thua kém ta về nhiều mặt, nay họ đều đã hơn hẳn ta, có nước kinh tế phát triển hơn ta hàng chục lần và có nước đã tự đưa được người lên vũ trụ … , chẳng đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ, phải trăn trở, phải hổ thẹn sao?

  1. b) Nhận thức về tri thức:

Sự hiểu biết của mỗi người có hạn, mà tri thức của loài người thì mênh mông. Do đó, mỗi người phải có ý thức bảo vệ, khai thác sử dụng kho tàng tri thức chung đó vì tương lai tốt đẹp của của Loài Người.

Một trong những sai lầm lớn nhất của Loài Người, là không biết bảo vệ khai thác sử dụng kho tàng tri thức chung đó của mình, mà đã đem phần tri thức này đối chọi lại, thậm chí còn triệt tiêu phần tri thức kia.

– Thời trung cổ, người đứng đầu giáo phái này định áp đặt giáo phái kia. Đã xảy ra các “Cuộc thập tự chinh” (TTC). TTC-1(1095) đến TTC-9 và tiếp theo các TTC khác vẫn nổ ra trong ít nhất hơn 200 năm sau. Galilê phát hiện ra “Thuyết nhật tâm”, trái với “Thuyết địa tâm”, thì giáo hội Công giáo Rôma đã cấm truyền bá nó và đã quản thúc ông tại gia đến chết.

– Thời Tần Thủy Hoàng, đã đốt sách của các Triều đại trước, một kho tàng tri thức vĩ đại của nền văn minh Trung Hoa, một “nôi văn hóa lớn” của Nhân loại.

– Trong chiến tranh Thế giới lần thứ hai, Hitle kích động nhân dân Đức (Đặc biệt là nhồi nhét cho lũ trẻ con Đức), cho dân tộc Gecmanh là “dân tộc thượng đẳng”. Do đó chỉ có dân tộc Đức mới có khả năng cai trị thế giới. Đã tập trung tiêu diệt dân tộc Do Thái thông minh và đã phá hủy biết bao công trình tri thức văn minh của nhiều dân tộc khác.

– Ngay Mác cũng mắc sai lầm lớn này. Như phân biệt giai cấp, phân biệt tư bản và xã hội chủ nghĩa để đối đầu nhau, tàn sát nhau, mà trong nhiều bài viết của tôi đã đề cập tới.

Vậy muốn bảo vệ khai thác sử dụng được nguồn trí thức chung đó của Loài Người thì về mặt nhận thức cần:

– Chung, là chấm dứt ngay việc đem sự hiểu biết “ngắn chửa đầy gang” với trí tuệ “mù lòa”, “đần độn” của một vài người, của một nhóm người để “định hướng”, để “áp đặt” thay cho sự hiểu biết “dài hàng vạn-vạn dặm” với trí tuệ sáng suốt của cả một cộng đồng một dân tộc ! (“Trí tuệ mù lòa”, là thuật ngữ mới trong tài liệu: “Nhập môn tư duy phức hợp”, là nói về mặt khách quan. Còn “Trí tuệ đần độn”, tôi thêm, là nói về mặt chủ quan).

– Cụ thể, là cần phải khắc phục ngay các tật xấu mà ta thường gặp là đối đầu nhau về nhận thức, về tư tưởng. Và càng không nên chấp nhặt, định kiến, chụp mũ nhau, miệt thị nhau về nhận thức, về tư tưởng. Bởi lẽ, về nhận thức, về tư tưởng thì chỉ có chủ thể mới có thể tự điều chỉnh được, còn khách thể thì không thể nào áp đặt.

Cái tài, cái giỏi của mỗi người là bằng lý lẽ sắc bén, bằng việc làm mẫu mực của mình thuyết phục được người khác, thức tỉnh được lòng người, bảo vệ cái chân, cái thiện, vạch trần cái ác, cái gian manh, dựa trên chuẩn mực đạo đức của Loài người: Vì Con người, vì Loài người.

  1. c) Nhận thức về thế giới:

– Hiện nay, nếu ai đó còn phân biệt kinh tế tư bản với kinh tế xã hội chủ nghĩa, thì người đó thực sự là đang ngủ mê giữa ban ngày. Kinh tế thế giới ngày nay, là hội nhập hợp tác phát triển bình đẳng cùng có lợi và được điều tiết bằng quy luật của nền kinh tế thị trường. Không một nước nào có thể đứng ngoài vòng chi phối chung của nó. WTO là một ví dụ điển hình! Và hiện nay đã xuất hiện TPP, một hình thái hợp tác kinh tế mới cao hơn. Rất mừng là Việt Nam đã là một trong 12 nước thành viên đầu tiên và trong tương lai gần sẽ có nhiều nước tham gia.

– Trong thời đại hội nhập mà lý luận vẫn còn đặt vấn đề “ai thắng ai” để chia bè, kết phái, thì những người đó quả là chả hiểu gì về thời cuộc! Thậm chí còn mắc một tội lớn: Chống lại quy luật phát triển của loài người! Vì hội nhập hợp tác phát triển là dựa trên cơ sở đồng thuận, là xu thế tất yếu, không thể đảo ngược, của thời đại!

  1. d) Nhận thức về đồng bào và bạn thù:

Người cách mạng, là cải tạo con người, cải tạo thế giới. Do đó, phải biết thu phục lòng người; giác ngộ, cải tạo con người; biến “thù” thành “bạn”. Nếu chỉ coi những ai ủng hộ mình là “bạn” còn ngược lại là “thù”, thì nhận thức đó chưa xứng tầm với người cách mạng.

E – Về Truyện Kiều: Tháng 7 năm 2006, tìm đến với Truyện Kiều là đọc cho vui. Nhưng từ các “dị bản”, tôi đã đi sâu nghiên cứu khảo dịch Truyện Kiều ra tiếng Việt hiện đại phổ thông đại chúng và trong sáng. Nâng Truyện Kiều – Nguyễn Du lên một tầm cao mới. Lời nói đầu có đoạn viết:

“Hơn thế, dịch sao cho các em học sinh (từ cấp I đến cấp III) hiểu ngay, thích thú đọc, học, hiểu Truyện Kiều.

Qua đó, gieo vào tâm hồn các em tính nhân văn, tính tư tưởng, tính thơ của Truyện Kiều. Thay cho game độc hại và xã hội đen đang hàng ngày hàng giờ rình rập len lỏỉ vào tâm hồn các em.

Bồi dưỡng cho các em có tư tưởng trong sáng và rộng lớn xót thương số phận của mỗi con người, của cả loài người.

Xây dựng thế hệ con người Việt Nam mới làm chủ đất nước làm chủ xã hội, mọi người làm Người theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Có thế, TRUYỆN KIỀU – NGUYỄN DU mới trở thành một trong những công cụ hữu hiệu chính để xây dựng xã hội mới ổn định văn minh.”

F – Và mới đây, đã viết THƯ CỦA MỘT CÔNG DÂN TRÁI ĐẤT. (Cuối Tự bạch). Trong đó, đã phản ánh “Tư tưởng Nhân dân làm chủ đất nước làm chủ xã hội, mọi người làm Người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Đại hội X đến nay.

G – Về rèn luyện cho mình được tốt hơn, trong sáng hơn, tôi thường đúc rút từ thực tiễn nhiều mặt của cuộc sống và của lịch sử.

  1. a) Từ lịch sử như:

Bài học lịch sử quý giá gần đây nhất, là qua sự ra đi vào cõi vĩnh hằng của đồng chí Võ Nguyên Giáp mà tôi đã rút ra một kết luận và cũng là bài học sâu sắc cho mình:

“Của cải danh vọng nó đến nó sẽ đi.

Chỉ có tình người là còn lại mãi mãi!”

  1. b) Từ cuộc sống như mấy bài thơ sau:

THƠ – VĂN ?

(thu hoạch sau khi đọc “Ba phút sự thật” của Phùng Quán)

Thơ – Văn chân chính trên đời,

Dạy con người, biết làm người thẳng ngay.

Nhưng đời lắm chuyện đắng cay,

Muốn thẳng chẳng đặng, muốn ngay khó mà…

Thật hư – Hay dở – Chính tà,

Sự thật – thường “đắng”; Gian tà – “ngọt ngon”.

Khi được chấp pháp cầm quyền,

Chớ ham danh vọng mà quên dân lành.

Vì “dân (làm) chủ” phải đấu tranh,

Truyền lưu sử sách thơm danh đời đời!

Thơ – Văn chân chính trên đời,

Dạy con người, biết làm người thẳng ngay.

Nhưng đời lắm chuyện đắng cay,

Muốn thẳng chẳng đặng, muốn ngay khó mà…

Thật hư – Hay dở – Chính tà,

Nhân dân, Lịch sử vốn là thước đo!

                                                   Đỗ Minh Xuân

 

LỜI BÌNH CỦA ĐỖ MINH XUÂN

Về bài thơ “Thường dân”

Hiểu về dân thế lỗi thời!

Bởi, Dân cũng một con người như ai!

Bình quyền, bình đẳng mọi người,

Mưu cầu hạnh phúc người người cùng lo!

Thời nay, Dân đã là “Vua”!

Đất nước, xã hội cũng vừa của Dân!

Quyền phúc quyết, quyền chọn quân,

Hiến pháp dân quyết, chọn quân dân bầu.

Từ nay, Dân đã đứng đầu,

Tuyệt đối cấm kẻ cưỡi đầu nhân dân!

***

THƯỜNG DÂN
Thơ Nguyễn Long
Giải A cuộc thi thơ lục bát báo Văn Nghệ Trẻ 2002.

Đông thì chật, ít thì thưa

Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân

Quanh năm chân đất, đầu trần

Tác tao qua những vũ vần bão giông

Khi làm cây mác, cây chông

Khi thành biển cả, khi không là gì

Thấp cao đâu có làm chi

Cỏ ngàn năm vẫn xanh rì… cỏ thôi

Ăn của đất, uống của trời

Dốc lòng cởi dạ cho người mình tin

Ồn ào mà vẫn lặng im

Mặc ai buôn bán nổi chìm thiệt hơn

Chỉ mong ấm áo, no cơm

Chắt chiu dành dụm thảo thơm ngọt lành

Hòa vào trời đất mà xanh

Vô tư mấy kiếp mới thành thường dân. ./.

II – CẢ ĐỜI NẾM TRẢI MỌI MÙI ĐẮNG CAY

Xuất thân từ gia đình Nho giáo nghèo, suốt đời đi theo cách mạng, theo Tư tưởng và đạo đức của Bác Hồ, tôi đã hết lòng vì Nước, vì Dân.

Trong quân đội, tôi chỉ tập trung vào hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu nên không có điều kiện quan tâm đến tình hình xã hội.

Nhưng từ khi về nghỉ hưu tại địa phương, qua những điều tai nghe mắt thấy và bản thân cũng đã “nếm trải mọi mùi đắng cay”, phải nhẫn nhục chịu đựng, khiến tôi không khỏi băn khoăn, trăn trở:

Thứ nhất : Năm 1990, trong chỉnh đốn Đảng, một con người như tôi, kiểm điểm không có một thiếu sót nào, không tự nhận một hình thức kỷ luật nào, chỉ thông qua bỏ phiếu tín nhiệm (theo hướng dẫn) mà chi bộ đã khai trừ tôi ra khỏi Đảng và đến Đảng uỷ cũng 100% đề nghị trên khai trừ là vì sao ? (Thường vụ Hội CCB huyện đã bảo vệ tôi).

Phải chăng chỉ vì tôi đã bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp cho dân, “cán bộ” không thu khống được của dân gần 120 tấn thóc/năm?

Phải chăng trước đây “cán bộ” muốn nói gì thì nói, làm gì thì làm, mà nay lại có người dám chỉ ra những việc làm sai trái thì tìm cách để loại bỏ?

Ngược lại, đảng viên (Chủ tịch UBND xã), tôi đã tố cáo về tội tham nhũng, thanh tra đã kết luận, theo luật là phải truy cứu trách nhiệm hình sự, thì huyện không những đã không khai trừ khỏi Đảng mà chỉ cho rút khỏi Thường vụ, còn để Đảng uỷ viên. Nay vẫn là ĐUV, Chủ tịch MTTQ xã.

Nếu đảng viên tốt (như tôi) mà bị khai trừ, còn đảng viên cơ hội tham nhũng còn lại, thì Đảng sẽ ra sao ?

Thứ hai : Cuối năm 1990, Bí thư Đảng uỷ (lúc đó) đã nhân danh Đảng, gạt tôi ra khỏi danh sách BCH lầm thời Hội CCB xã đã đành. Nhưng khi Đại hội Hội CCB xã lần thứ nhất, đã bầu tôi vào BCH và BCH đã phân công tôi là Chủ tịch Hội CCB xã rồi, mà Bí thư Đảng uỷ xã vẫn đề nghị Thường vụ Hội CCB huyện không công nhận chức danh Chủ tịch Hội CCB của tôi, trong lúc tôi không có sai phạm gì, là tại sao? Thường vụ Huyện hội không nhất trí, vẫn ra quyết định công nhận kết quả bầu cử của Đại hội và phân công của Ban Chấp Hành. (Bí thư này phải nghỉ việc).

Thứ ba : Đầu năm 1992, trong lúc tôi đang lăn lộn với công tác khuyến nông, triển khai đến hầu hết Hội CCB các xã nam Phù – Tiên, thì Đại tá Nguyễn Xuân Quảng, Uỷ viên BCH Hội CCB huyện phụ trách cụm (Cương Chính, Minh Phượng, Tống Trân, Nguyên Hoà) cho biết:

– Coi chừng, huyện có dự kiến bắt giam ông đấy!

– Tại sao?  – Tôi hỏi.

– Có tin, ông đi đến xã nào là xã đó có vấn đề !  – Trả lời.

– Thế huyện có 35 xã, đều là điểm nóng cả, thì những xã tôi chưa đặt chân đến thì sao ?  – Tôi hỏi lại.

– Chúng tôi đã trả lời: “Bắt người thì dễ, nhưng thả là khó đấy !”  Nói thế thôi ! Bắt một Chủ tịch Hội CCB xã đâu dễ vậy ? – Trả lời.

Thứ tư : Trong lúc khó khăn về điện, thì Bí thư, Chủ tịch khóa trước mời tôi ra tháo gỡ. Đến khi tôi đã sắp hoàn thiện mạng, bắt đầu có lãi để trả nợ, tại sao Bí thư và Chủ tịch, khoá mới (2000 – 2004) lại lật lọng?

  1. a) Ngày 9 tháng 1 năm 2001, đã đơn phương giảm giá từ 1000 đ/kwh xuống 800 đ/kwh và ngày 3 tháng 5 năm 2003, cũng lại đơn phương đồng loạt giảm giá xuống 700 đ/kwh mà không hề có sự thoả thuận nào của tôi ? Giao kết dân sự mà UB ký với tôi đã quy định giá bán điện là 1.000 đ/kwh, (bằng giá phổ biến ở khu vực lúc đó, cá biệt có xã giá 1.200 đ/kwh, nhưng không phải đầu tư cải tạo mạng) và thời hạn của tôi đến hết 2005.
  2. b) Việc thành lập Doanh nghiệp hay thành lập Hợp tác xã là quyền của tôi. Tại sao Bí thư, Chủ tịch (nhiệm kỳ 2000 – 2004) lại ép tôi phải thành lập HTX ? Chỉ riêng một hành vì này cũng là vi phạm pháp luật! (Điều 46 BLDS cũ, Điều 50 BLDS mới).

Dựa vào cơ sở pháp lý nào mà ngày 21-10-2003, Chủ tịch UBND xã đã tự ý công bố trên đài truyền thanh, tước quyền quản lý mạng thuộc quyền Doanh nghiệp của tôi đang quản lý để giao cho “HTX điện” chưa hình thành (vì lúc đó chưa được thành lập), sau này mới rõ người nhà của Bí thư Đảng ủy xã là “Chủ nhiệm”, mà chưa hề có một sự thoả thuận nào của tôi ? Tự ý phá khoá bốt điện, chốt số các công tơ của dân. Tôi đã điện cho 113. Nhưng, vin vào lý do nào đó 113 không về.

Hành vi này, của chính quyền địa phương, tội còn nghiêm trọng hơn nhiều vụ Đoàn Văn Vươn Tiên Lãng Hải Phòng!

Sau một thời gian dài chờ đợi sự tháo gỡ từ phía địa phương, nhưng không đạt, nên đã buộc tôi phải phát đơn kiện, đề ngày 1-1-2004.

Báo Hưng Yên đã vào cuộc bênh vực tôi, nhưng cũng vô vọng.

Vụ kiện này đã qua sơ thẩm và phúc thẩm, nhưng quyền lợi chính đáng, hợp pháp của tôi vẫn không được bảo vệ. Tôi đã khiếu nại lên Toà án Nhân dân Tối cao:

– Hình sự: Tự ý cướp quyền quản lý điện hợp pháp của Doanh nghiệp tư nhân Điện Minh Xuân để bán cho cái gọi là HTX điện để ăn chia. Bán giá 700 đ/kwh, nộp về “UB” 50 đ/kwh. Mạng điện thôn Mai Xá, thôn của BTĐU xã, có hai nhân viên điện, thì trong đó có một là em vợ của BTĐU. Ngày đầu tôi đã cử các nhân viên điện theo học các lớp đào tạo của Ngành Điện mở. Khi thấy anh em có thể tự quản lý được, tôi nói: Bây giờ tôi bàn giao mạng cho anh em quản lý, để tôi tập trung vào mạng Điềm Xá nơi tôi ở, thì đều trả lời: “Ông ở lại cho chúng cháu dựa!”. Thật buồn, nay bắt đầu có lãi để trả nợ thì làm phản! Thế mà, những kẻ nhân danh là “cộng sản” lại rắp tâm cướp mạng của tôi. Để tôi suýt nữa phải ra hầu Tòa, nếu vợ con tôi không xúm vào trả nợ đậy trên 42 triệu đồng đáo hạn cho Ngân hàng.

– Dân sự: Bồi hoàn các khoản đã gây thiệt hại cho tôi qua các lần tự ý đơn phương giảm giá điện.

Nhưng Tòa án Nhân dân Tối cao mới thông báo cho tôi phần dân sự, còn phần hình sự chưa có phúc đáp.

Thứ năm : Tôi đã tự ứng cử vào Quốc hội khoá XIII và XIV.

Qua thực tế mới thấy được, vấn đề dân chủ trong bầu cử hiện nay trên đất nước ta chỉ là hình thức. Lấy “biểu quyết” của vài chục người để loại tôi ra, thay cho lá phiếu của hàng vạn người, trong khi tôi có đủ tiêu chuẩn của ĐBQH.

Thứ sáu : Huyện đã yêu cầu tôi báo cáo thành tích làm đường để khen thưởng. Nhưng, ngày 11-10-2010, tôi tham gia ý kiến thẳng thắn, chân tình vào văn kiện Đại hội XI, thì huyện không nhắc đến khen thưởng, mà còn “răn đe” và định kỷ luật tôi. Buộc tôi phải viết đơn “kêu cứu” đến BCH TƯ, Quốc hội và Huyện ủy Tiên lữ (điểm chỉ bằng máu của mình).

Đợt 8-9-2012, tôi gửi thư đóng góp cho một số Uỷ viên Bộ Chính trị theo tinh thần Nghị quyết 4 BCH TƯ khóa XI, thì huyện không bíết theo chỉ thị của cấp nào, mà cho tôi là: “đảng viên có dấu hiệu vi phạm kỷ luật” (dựa vào “19 điều đảng viên không được làm”) đã kiếm cớ chỉ đạo Đảng ủy xã kiểm tra dùng “bỏ phiếu” của Chi bộ (Bước 1, có vi phạm kỷ luật không? Bước 2, có vi phạm thì bỏ phiếu về hình thức kỷ luật) để khép kỷ luật “Cảnh cáo” tôi! Những người bày ra trò này, hy vọng là sẽ khai trừ được tôi như đợt chỉnh đốn Đảng năm 1990. Nhưng họ có biết đâu thời thế đã đổi thay có lợi cho những người tích cực.

III – KẾT LUẬN:

“THIỆN CĂN LÀ Ở LÒNG TA”

“CHỮ TÂM KIA MỚI BẰNG BA CHỮ TÀI”

Tóm lại, cuộc đời của tôi là:

Cả đời tích đức tu nhân!

Kết thành quả phúc cho đời, cho con!

Chẳng màng lợi lộc vàng son!

Chỉ mong xã hội vuông tròn muôn năm!

Để mọi người hiểu thêm, xin trích Thư “kêu cứu” của tôi gửi Ban Chấp hành Huyện ủy Tiên lữ, ngày 29-11-2010:

“Trước hết, xin cám ơn Tổ chức, đã khuyên tôi chân thành: trực tiếp có, gián tiếp có (*); Trung ương có, địa phương có.

Nhưng, tôi không thể làm khác được!

Vì, Tổ quốc và Nhân dân đã là Lý tưởng, Lẽ sống và Đạo lý làm người của tôi!”

—–

(*)  Gián tiếp, trong đó, có qua con trai tôi. Tôi cũng đã nói với con trai tôi như sau:

“Những gì thuộc về nhận thức tư tưởng – Lý tưởng, lẽ sống và đạo lý làm người, thì chỉ có chủ thể mới có thể tự điều chỉnh được, còn khách thể thì không thể áp đặt!

“Dù con có giận dỗi hay làm mình làm mẩy gì gì đi nữa cũng không thể giải quyết được vấn đề.

“Vì khi lao vào cuộc “bút chiến” này, để phòng khi “hở miếng”, mức cao nhất là Bố đã sẵn sàng nhận “án tử hình”! “Người ta sinh ra ai chẳng chết, hãy vẹn lòng son với Nước – Dân!”

“Nhưng, đó là quyết tâm, là phòng xa ! Nghệ thuật chiến thắng là phải làm sao, trước hết, bảo vệ được mình: biết tiến, biết lui đúng lúc, kịp thời, đạt hiệu quả cao. Nhưng, thời cơ thì không được bỏ lỡ! Khi cần thiết phải hy sinh để giành thắng lợi cuối cùng cho nước cho dân cho con người cho loài người, thì không được do dự! Luôn tin và phải dựa vào quần chúng, nhân dân! Nhiều người tốt đang ủng hộ, bảo vệ Bố!” ./.

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *