Những yêu cầu cơ bản của Hiến Pháp

Những yêu cầu cơ bản của Hiến pháp là “gốc” của Hiến pháp, “luật” của mọi luât.

Nhân dân dựa vào đây để thực hiện quyền làm chủ, giám sát hoạt động của mọi tổ chức và hành vi của mọi công dân.

Nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, mọi người làm Người bằng thực quyền trực tiếp bầu chọnphúc quyết của mình.

PHẦN I – MỤC TIÊU:

1 Vì nước: Vì độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; vì an ninh, hoà bình ổn định của Tổ quốc.

2Vì dân: Vì quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của nhân dân; vì sự nghiệp đoàn kết toàn dân và sự đồng thuận cao trong xã hội; vì việc làm cho người lao động; vì đời sống vật chất, văn hoá, sức khỏe và tinh thần của nhân dân; vì sự lành mạnh, ổn định, văn minh trên mọi lĩnh vực.

3Vì con người: Vì quyền làm Người của mọi người. Bảo đảm cho con người được:

  1. a) Làm chủ bản thân: Đó là quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng và quyền mưu cầu hạnh phúc. Có cơ chế khích lệ, tạo điều kiện để mọi người tự vươn lênlàm Ngưởi: Vì nước vì dân vì con người vì loài người; có đủ trí tuệ và năng lực làm chủ đất nước, làm chủ xã hội.
  2. b) Làm chủ xã hội: Là mọi người có ngang quyền trong việc bầu chọnphúc quyết; giải quyết mối quan hệ hài hoà giữa con người với con người; giải quyết hài hoà giữa nghĩa vụ và quyền lợi của công dân,đồng thời hài hoà giữa công dân với bộ máy quản lý Nhà nước.
  3. c) Làm chủ thiên nhiên: Là chủ động giải quyết mối quan hệ hài hoà giữa con người với thiên nhiên, với môi trường sống. Cùng cộng đồng quốc tế giữ cho Trái đất trong lành, không nóng dần lên, mãi mãi là một Hành tinh xanh, yên bình và đầy sức sống.
  4. d) Làm chủ thời đại: Là chủ động hội nhập với cộng đồng quốc tế, với nền kinh tế thế giới, làm chủ khoa học – công nghệ mũi nhọn của thời đại. Góp phần làm cho đất nước phồn vinh, nhân dân hạnh phúc.

đ) Làm chủ không gian vũ trụ: Là cùng các nước đi trước, Việt Nam cũng tham gia nghiên cứu không gian vũ trụ, cũng đưa được thiết bị và con người lên thám hiểm Mặt trăng cùng các hành tinh khác trong hệ Mặt trời vì mục đích hoà bình và sự phát triển của đất nước.

PHẦN II – BIỆN PHÁP:

A – Bằng Hiến pháp, luật, chế độ, chính sách:

Việt Nam là Nhà nước do nhân dân làm chủ, mọi người làm Người.

a/ Nhân dân trực tiếp bầu Tổng thống, Đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Bỏ HĐND cấp huyện, xã và tương đương(xem chú thích)).

b/ Nhân dân trực tiếp phúc quyết việc thông qua và sửa:

– Hiến pháp;

– Luật bầu cử Tổng thống, Quốc hội và Hội đồng nhân dân; Luật hoạt động của Tổng thống, Phủ Tổng thống; Luật Tổ chức, hoạt động Quốc hội;

– Luật Tổ chức và hoạt động của Bộ máy quản lý Nhà nước: Lập pháp, Tư pháp, Hành pháp và các tổ chức xã hội: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; Công đoàn, các tổ chức xã hội khác.

– Luật Hỏi ý dân, trưng cầu ý dân và quyền phúc quyết.

– Luật Làm luật và ban hành các văn bản dưới luật.

Nền tảng, chuẩn mực chung là bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đất nước của xã hội; tuân thủ, tôn trọng đạo đức, thuần phong mỹ tục; bảo đảm tính khuyến thiện – trừ ác, kín nhẽ, thực tiễn, khả thi, nghiêm minh, trung thực, hiệu quả, công bằng, bình đẳng; tính đặc thù, tính nhất quán, tính nhân dân, tính quốc tế, tính lịch sử và tính thời đại.

Ở Nhà nước do nhân dân làm chủ thì:

a/ Không tồn tại các đảng phái.

b/ Nguyên tắc về mối quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước là phân quyền – không có toàn quyền; độc lập; giám sát –  kiểm tra chéo theo Hiến pháp, luật.

Mỗi tổ chức, mỗi cá nhân đều có chức trách nhiệm vụ quyền hạn rõ ràng theo quy định của Hiến pháp, luật.

c/ Trong việc thực thi Hiến pháp, luật, nếu có vướng mắc không tự giải quyết được, thì hỏi ý dân.

I –Quốc hội có nhiệm vụ:

1 – Lập hiến;

2 – Lập pháp;

3 – Giám sát tối cao;

4 – Bầu các cơ quan chức năng của Quốc hội;

5 – Bầu các cơ quan chức năng Nhà nước do Tổng thống điều hành, Phủ Tổng thống quản lý.

II – Tư pháp phải bảo đảm được các chức năng cơ bản là: Trung thành – Bảo vệ, giám sát – Tham mưu, tư vấn – Tự hoàn thiện – Hoạt động hiệu quả.

1 – Trung thành, là chỉ tuân theo Hiến pháp, luật. Bảo đảm tính nghiêm minh, trung thực, công bằng, bình đẳng, đặc thù, nhất quán và tính nhân dân trong việc thực thi Hiến pháp, luật.

2 – Bảo vệ, giám sát:

  1. a) Giám sát, bảo vệ việc thực thi Hiến pháp, luật trong bộ máy quản lý Nhà nước, quản lý xã hội; bảo đảm cho các bộ máy đó thật sự trong sạch và hoạt động hiệu quả, theo đúng quyền hạn nhiệm vụ được giao.
  2. b) Giám sát, bảo vệ việc thực thi Hiến pháp, luật trong nhân dân; bảo đảm lành mạnh hoá, trong sạch hoá trong các mối quan hệ xã hội; mọi người tự giác tuân thủ Hiến pháp, luật; bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân và nhân dân thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân của mình.

3 – Tham mưu, tư vấn cho Quốc hội, trong việc dự thảo Hiến pháp, luật, và có trách nhiệm kiểm tra giám sát, phát hiện kịp thời những bất cập khi thực thi Hiến pháp, luật trong xã hội gửi Quốc hội xem xét chỉnh sửa, hoàn thiện để nhân dân phúc quyết.

4 – Tự hoàn thiện, tự làm trong sạch bộ máy của mình là chức năng quan trọng bậc nhất của Ngành Tư pháp.

Tự hoàn thiện, tự làm trong sạch bộ máy của mình về: tổ chức, nề nếp hành chính, tác phong công tác, hiệu quả công việc và việc gương mẫu tuân thủ, thực thi Hiến pháp, luật do nhân dân phúc quyết.

5 – Hoạt động hiệu quả là phải bảo vệ bằng được cái chân, cái thiện; kịp thời ngăn chặn, trừng trị cái ác, cái gian manh, không để oan sai – là trách nhiệm hàng đầu, có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa; được nhân dân tin yêu và công luận đồng tình ủng hộ. Làm cho mọi người  “Tâm phục, khẩu phục!”

III – Ngành hành pháp,quản lý điều hành Nhà nước và xã hội.

Quy luật cơ bản để dựng nước, giữ nước và quản lý đất nước là:

Nhân dân là tất cả! Pháp luật là trên hết!

Bộ máy quản lý điều hành Nhà nướcvà xã hội phải:

1 – Bảo đảm tính tiên tiến, tính khoa học: Kịp thời đại, gọn nhẹ hợp lý, tập trung, hiệu quả, phân định chức trách cụ thể, rõ ràng; tránh trùng lặp, phân tán, hình thức. Giải quyết công việc: Theo đúng Hién pháp, luật, nhất quán – cùng một sự việc thì cách giải quyết giống nhau và không có kẽ hở để lợi dụng làm trái làm sai. Nề nếp hành chính: Tạo thuận lợi cho dân, giải quyết công việc nhanh gọn hiệu quả. Giao tiếp, ứng xử: Có văn hoá, văn minh. Nếp sống văn hóa: Thực hiện văn hoá công sở, văn hóa ứng cử, từ chức.

2 – Bảo đảm một Nhà nước, một xã hội lành mạnh ổn định văn minh có tính đồng thuận cao; kiên quyết loại bỏ cơ hội, lưu manh chính trị; chống thói cường hào, nhiễu sách dân; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng; ngăn chặn kịp thời hành vi phạm pháp, vi phạm đạo đức, làm tổn hại đến bản sắc văn hoá tốt đẹp và thuần phong mỹ tục của dân tộc; loại bỏ sự lũng loạn từ mọi phía xâm hại đến Hiến pháp, luật, đến quyền làm chủ của nhân dân, đến hoạt động lành mạnh của hệ thống quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế xã hội…

Để ngăn chặn và khắc phục kịp thời hậu quả xấu xảy ra do sự chưa kín kẻ của Hiến pháp, luật được phương tiện thông tin đại chúng phát hiện và đăng tải:

a/ Những người đứng đầu các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội… các cấp có nghĩa vụ cập nhật thông tin liên quan, xử lý kịp thời, đúng luật. Không cập nhật thông tin và xử lý kịp thời, đúng luật thì người đứng đầu cơ quan liên quan đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

b/ Các cơ quan thông tin đại chúng, song song với việc đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng, còn có nghĩa vụ thông báo kịp thời bằng văn bản vụ việc đó cho cơ quan liên quan biết để xử lý. (xem chú thích).

3 – “Dân chủ là để cho dân mở miệng nói ra”. Mọi công dân, mọi tổ chức không bị truy cứu trách nhiệm về việc công khai bày tỏ chính kiến vì nước, vì dân, vì con người của mình trước cộng đồng trên công luận và có quyền được thông tìn đầy đủ chính kiến đó của cộng đồng trên công luận.

4 – Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Trực tiếp: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra giám sât, dân thụ hưởng thành quả. Gián tiếp: thông qua Tổng thống, Quốc hội, Hội đồng nhân dân.

5 – Bảo đảm quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, điều chỉnh hoạt động của mọi tổ chức và hành vi của mọi người bằng pháp luật, bảo đảm sự nghiệp đoàn kết toàn dân và sự đồng thuận cao trong xã hội.

6 – Bảo đảm quyền tham gia ý kiến và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, của mọi tổ chức, mọi công dân.

7 – Hiến pháp, Luật cơ bản. Luật và các văn bản dưới luật đều phải phù hợp với Hiến pháp.

Hệ thống văn bản pháp quy, quản lý hành chính, kinh tế – xã hội và các văn bản quản lý, điều hành khác phải phù hợp với Hiến pháp, luật; đồng thời không trái với văn bản của cấp trên và các văn bản có cấp pháp lý cao hơn. Khi phát hiện trong văn bản pháp quy của bất cứ cơ quan nào không phù hợp với Hiến pháp, luật thì phải dừng ngay việc thi hành những điều đó và phản ánh kịp thời cho cơ quan đó chỉnh sửa.

8 – Làm việc theo chức trách nhiệm vụ và quyền hạn; giải quyết công việc nhanh hiệu quả; thực hiện dân chủ tập trung, biểu quyết theo đa số. Khi có số phiếu ngang nhau thì chọn bên của người có quyền cao nhất.

9 – Xây dựng nền kinh tế thị trường lành mạnh, hiệu quả.

Mọi hoạt động kinh tế trên nước Việt Nam, phải tuân thủ Hiến pháp, luật của Việt Nam và luật pháp quốc tế; phải vì công ăn việc làm và đời sống của người lao động, vì lợi ích cộng đồng, vì sự phát triển chung của đất nước, của xã hội; bảo đảm môi trường sống sạch bền vững, bảo vệ sức khỏe cộng đồng; sử dụng tài nguyên thiên nhiên, tự tạo và tái tạo tiết kiệm, hợp lý. Khuyến khích sử dụng công nghệ mới, nguyên nhiên vật liệu mới thân thiện với môi trường. Khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, nguyên nhiên vật liệu tái tạo nhằm bảo vệ môi trường sống. Kiên quyết loại bỏ các dự án gây ô nhiễm môi trường và thiệt hại cho dân.

Phát triển đất nước toàn diện, hài hoà, cân đối, nhanh, bền vững, năng động, lành mạnh, hiệu quả; phù hợp với xu thế hội nhập hợp tác phát triển và phải “luật hoá” “minh bạch hoá” việc phân chia lợi ích Nhà nước với doanh nghiệp và phân phối lợi nhuận giữa người sử dụng lao động với người lao động và giữa những người lao động nói chung bằng “Luật lợi nhuận và phân phối lợi nhuận”.

Đồng thời, Nhà nước và xã hội cần phải đặc biệt quan tâm đến người lao động (trí óc và chân tay) – người trực tiếp làm ra của cải cho xã hội. Phải coi người lao động, trong độ tuổi và ngoài độ tuổi còn sức lao động, là vốn quý của quốc gia. Từ nay, phải coi: Bóc lột lao động là một tội ác! Khuyến khích việc tạo công ăn việc làm và chăm lo thoả đáng cuộc sống cho người lao động. Nhà nước phải chủ động tạo “quỹ đào tạo lao động”, “quỹ tạo việc làm” “quỹ chờ việc làm” (thay “quỹ thất nghiệp”).

Xây dựng nền kinh tế đất nước phải tuân thủ các quy luật sau:

a/ Quy luật “Chuỗi vòng ren logic về mối quan hệ tổng quát của nên kinh tế thị trường”:

“Có việc làm ổn định – thu nhập tăng – đời sống khá giả – sức mua tăng – kích thích sản xuất phát triển – tạo thêm nhiều việc làm – có việc làm ổn định.

Mà sản xuất phát triển quyết định “bước ren” logic ấy!”

b/ Quy luật “Về tính cạnh tranh của nền kinh tế thị trường”:

“Cạnh tranh là bản chất đặc trưngcũng là quy luật vận hành của nền kinh tế thị trường. Nhưng, cạnh tranh lành mạnh (1)mới là bản chất ưu việt đặc trưng của nền kinh tế đó.”(1)(cạnh tranh lành mạnh là tuân thủ pháp luật; vì nước vì dân vì con người và vì sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước, nâng cao đời sổng của nhân dân, ổn định chính trị xã hội …).

c/ Quy luật “Vận hànhđiều hànhnền kinh tế thị trường lành mạnh hiệu quả”:

“Điều kiên tiên quyết để vận hành – điều hành nền kinh tế thị trường lành mạnh hiệu quả là Nhà nước phải điều chỉnh hành vi tham lam, tính ích kỷ của các doanh nghiệp (không phân biệt trong nước hay nước ngoài) bằng Luật Lợi nhuậnPhân phối lợi nhuận.Đồng thời, Nhà nước vừa phải có cơ chế loại bỏ các yếu tố nhiễu, chủ quan duy ý chí, sự lũng loạn từ mọi phía; vừa phải có dự đoán dự báo chính xác, điều chỉnh linh hoạt, kịp thời đảm bảo cho nền kinh tế phát triển lành mạnh hiệu quả.”

Nhà nước có cơ chế chính sách “công bằng”, “ưu tiên”, “kiềm chế”, và “xóa bỏ” để điều chỉnh mọi hoạt động của nền kính đất nước theo hướng lành mạnh hiệu quả, thân thiện với môi trường sống, cải thiện cuộc sống của người lao động.

Theo nguyên tắc: Doanh nghiệp hoạt động trong môi trường thuận lợi thì tỉ lệ đóng góp cho Nhà nước phải cao hơn nơi có khó khăn; Doanh nghiệp tạo được nhiều công ăn việc làm và quan tâm chăm lo đến cuộc sống của người lao động thì được ưu đãi vay vốn với lãi suất thấp. Doanh nghiệp thuộc lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển thì được khuyến khích và hỗ trợ thỏa đáng. Ngược lại, Nhà nước sẽ dùng chính sách “kiềm chế” hoặc “xóa bỏ”.

Nhiệm vụ trước tiên của các Doanh nghiệp là phải chăm lo cuộc sống hàng ngày của người lao động. Mọi hành vi xâm hại đến quyền lợi của người lao động đều bị nghiêm trị. Nghĩa vụ của các Doanh nghiệp là phải thực hiện đầy đủ và đúng hạn các khoản đóng góp cho Nhà nước. Nghiêm cấm nợ lương, nợ các khoản đóng góp liên quan đến quyền lợi trước mắt và lâu dài của người lao động. Nhà nước có cơ chế “nắm đằng chuôi” đối với các Doanh nghiệp nước ngoài hoặc có yếu tố nước ngoài.

Chính sách tiền tệ của Nhà nước nhằm kích thích phát triển sản xuất và bảo đảm an sinh xã hội phải thực hiện ngay. Không giải ngân kịp thời, đúng đối tượng thì người đứng đầu các cơ quan liên quan phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Về mặt nhận thức, cần phải thấy được: Tham nhũng là người bạn đồng hành của mọi thể chế Nhà nước, thường dính đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quyềntiền (dù quyềntiền không lớn).

Thiết lập cơ chế ngăn cách sự vận hành của nền kinh tế với sự lũng loạn từ mọi phía. Để,muốn tham nhũng cũng không được.

10 – Khuyến khích phát triển cái thiện, loại trừ cái ác: Vì nước, vì dân, vì con người, vì sự ổn định tiến bộ chung mọi mặt của xã hội; ngăn chặn, trừng trị cái ác, cái gian manh; làm động lực thúc đẩy mọi mặt: kinh tế, văn hoá– xã hội, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, thể dục – thể thao – du lịch, thông tin – truyền thông, y tế… phát triển bền vững; quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội giữ vững; chính trị ổn định; ngoại giao thắng lợi.

11 – Thực hiện việc dân số và kế hoạch hoá gia đình: Ổn định dân số.Nâng cao chất lượng dân số: khoẻ mạnh, thông minh, thể trạng cân đối; cân đối độ tuổi, cân bằng giới tình; bình đẳng giữa các đối tượng, trừ các đối tượng đặc thù (duy trì, phát triển nòi giống các dân tộc quá ít người). Nhưng kiên quyết chống nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.

12 – Xã hội hoá công tác khuyến học, khuyến tài; tạo cho mọi người có điều kiện, cơ hội như nhau để học tập; làm chủ khoa học – công nghệ mũi nhọn của thời đại. Chăm lo đúng mức đủ tầm cho công tác giáo dục. Xây dựng một Nhà nước tri thức, một xã hội tri thức, một dân tộc tri thức, có dồi dào đồng bộ nguồn nhân lực tri thức đáp ứng cho mọi nhu cầu phát triển của đất nước, cả trước mắt và lâu dài, làm cho đất nước phát triển bền vững. Tạo nguồn Hiền – Tài cho nhân dân lựa chọn bổ sung vào các bộ máy quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.

13 – Mọi người, mọi tổ chức đều bình đẳng trước pháp luật, trong các mối quan hệ dân sự, trong mọi hoạt động và thụ hưởng hợp pháp về kinh tế chính trị…

Giải quyết các mối quan hệ dân sự là dựa trên cơ sở thiện ý, hợp táchòa giải.

Mọi tranh chấp dân sự không tự hòa giải được thì phải nhờ tòa án giải quyết. Nghiêm cấm tự ý đơn phương giải quyết. Hậu quả của việc tự ý giải quyết đơn phương thì bên gây ra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

14 – Không một cá nhân, không một tổ chức nào được phép đứng trên nhân dân, đứng ngoài pháp luật cũng như xâm hại đến quyền công dân, quyền con người của người khác.

PHẦN III – CÁCH THỂ HIỆN:

1 – Phải thể hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Trọng tâm là quyền phúc quyết và quyền tuyển chọn Hiền – Tài bổ sung cho bộ máy quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.

2 – Có tính hệ thống, chặt chẽ, hợp logic,có tính thống nhất-nhất quán, tính khái quát cao, súc tích: ngắn gọn, đủ ý, rõ nghĩa, tránh trùng lắp, kín nhẽ: chỉ có thể hiểu một nghĩa, không thể lợi dụng để làm trái, làm sai và phải lường tính trước và kịp thời khắc phục, điều chỉnh ngay, những mặt trái, những hậu quả xấu có thể xảy ra.

3 – Lời văn phù hợp với tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng và trong sáng. Đồng thời diễn đạt ngắn gọn, dễ nhớ, dễ vận dụng vào cuộc sống.

4 – Nội dung các điều trong Hiến pháp cần tách biệt, để khi chỉnh sửa điều này, thì ít làm ảnh hưởng, ít phải chỉnh sửa liên quan đến các điều khác.

5 – Các thuật ngữ, các khái niệm, các định nghĩa trong Hiến pháp, đều được sử dụng thống nhất-nhất quán trong luật, pháp lệnh và các văn bản quy pham pháp luật.

6 – Để ngắn gọn, súc tích nhưng đủ ý, rõ nghĩa, tránh lặp, ruờm, nay quy đinh:

  1. a) Dùng Việt Nam hay Quốc hiệu, thay cho “Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Ví du: Điều 18. Quốc huy: Hình tròn, ở giữa có biểu tượng quốc kỳ, chung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh răng và ghi Quốc hiệu.
  2. b) Cụm từ “theo quy định của pháp luật” sẽ bỏ khi có thể và được ngầm hiểu.
  3. c) Cụm từ “Hiến pháp, pháp luật” thay bằng “Hiến pháp, luật” hoặc “pháp luật”. Nếu chỉ liên quan đến luật thì dùng từ “luật”.
  4. d) “hợp hiến” là phù hợp Hiến pháp, luật, “vi hiến” là ngược lại.

đ) “thời giá” là giá lúc ra quyết định.

  1. e) Hiến pháp thống nhất dùng từ “nhân dân”, không tách nhân dân ra giai cấp, tầng lớp. Như: “… mà nền tảng là liên minh…” ở Điều 2, Hiến pháp 1992 là phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân, là có dụng ý xấu và rườm.
  2. g) Khi có thể, không lặp ý, nội dung, phần trước đã có.
  3. h) “Quyền làm chủ” của nhân dân được hiểu đầy đủ là “quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, mọi người làm Người” của nhân dân.
  4. h) Tên Hiến pháp: “Hiến pháp nước Việt Nam năm 2013”.

7 – Các điểm nêu trong “Những yêu cầu cơ bản của Hiến pháp” phải được cụ thể hóa trong Hiến pháp, luật.

“Những yêu cầu cơ bản”của Hiến pháp, là yêu cầu tối thiểu để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, là căn cứ để nhân dân giám sát toàn bộ hệ thống văn bản pháp luật, hoạt động của mọi tổ chức và hành vi của mọi người.

CHÚ THÍCH (về một số ý mới)

I – TỔ CHỨC NHÂN SỰ:

Là Bộ phận chuyên trách của Nhà nước về nhân sự. Chuyên phát hiện, bồi dưỡng, tuyển chọn, đào tạo, quy hoạch sử dụng nhân tài cho bộ máy quản lý nhà nước, quản lý xã hội cả trung ương và địa phương. Làm dự án Luật bầu cử Tổng thống, đại biểu QH và HĐND để Quốc hội thông qua và nhân dân phúc quyết.

Tổ chức nhân sự có hai cấp: Trung ương và tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Lần đầu, Quốc hội thành lập Tổ chức nhân sự Trung ương; Hội đồng nhân dân tỉnh thành lập Tổ chức nhân sự địa phương. Vì đây là tổ chức liên quan đến việc tạo nguồn nhân sự trong sạch cho bộ máy quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Nên phải tuyển chọn hết sức chặt chẽ kỹ càng. Kiên quyết thanh lọc ngay những phần tử không trong sạch. Các bộ phận chuyên trách của tổ chức này phải ổn định lâu dài có tính thừa kế, liên tục không theo nhiệm kỳ của Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Người đứng đầu tổ chức nhân sự, ở Trung ương thì Quốc hội, ở địa phương thì Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm theo định kỳ của Luật Tổ chức và Hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, hoặc khi có dấu hiệu lũng loạn tổ chức. Người đứng đầu, thành viên trong tổ chức nhân sự mà có hành vi lũng loạn thì phải xem xét thanh lọc và truy cứu hình sự.

Tạo nguồn nhân sự:

  1. a) Các dòng họ cấp thôn ở nông thôn; chi hội, chi đoàn ở các đoàn thể xã hội, chính trị xã hội ở cấp xã; phân xưởng ở xí nghiệp; phòng ban ở cấp huyện, cấp sở thuộc tỉnh thành phố… tùy thuộc vào số lượng người và tùy thuộc vào khả năng thực tế mà giới thiệu từ mười phần trăm (tối thiểu là một người), đến hai mươi phần trăm (tối đa là mười người) có năng lực về quản lý Nhà nước, quản lý xã hội ở cơ sở để đưa vào nguồn cấp khởi đầu. Lập “Phiếu cá nhân” của nguồn để nắm những thông tin tối thiểu để phục vụ cho việc tuyển chọn sau này.

Trên cấp thôn ở nông thôn là cấp xã, trên cấp phòng ở huyện là huyện, trên cấp sở ở tỉnh là tỉnh, trên cấp phân xưởng là xí nghiệp, gọi chung là “nguồn cơ sở”. Nguồn cơ sở dựa vào các tiêu chí định trước để bình chọn chia nhóm “năng lực” theo số người: Nhóm 50%; nhóm 30%; nhóm 20%, nhóm 10%; nhóm 5%; nhóm 3% để có kế hoạch đào tạo ở các mức khác nhau.

Trong nguồn tự cho điểm, tự bình chọn theo mẫu nhóm chuyền đề để giới thiệu. Tổ chức dựa vào đó mà phân nhóm theo chuyên đề và theo số điểm từ cao xuống.

  1. b) Nguồn ở các cấp cao hơn là tổng số nhóm 20% của cấp dưới trực tiếp. Cách thức bầu chọn nguồn cũng được phân nhóm và mục địch sử dụng nguồn cho những đối tượng cụ thể.
  2. c) Tất cả nguồn nhân sự về quản lý Nhà nước, quản lý xã hội đều phải được đào tạo qua việc tuyển chọn nguồn này.

II TỔ CHỨC BẦU CỬ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN 

Hội đồng nhân dân chỉ có ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Và được cơ cấu như sau: Đại biểu thuộc cơ quan cấp tỉnh khoảng 10%; cơ quan cấp huyện khoảng 10%; cấp xã 80% tổng số đại biểu của HĐNH tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ.

Đại biểu HĐND tỉnh trực tiếp ở xã nào, thì do nhân dân xã đó bầu. Tùy theo số dân mỗi xã có từ 1 đến 3 đại biểu (khoảng 3000 đến 5000 dân một đại biểu, xã nhỏ nhất được 1 đại biểu, xã lớn nhất không quá 3 đại biểu).

Đại biểu HĐND tỉnh thuộc cơ quan huyện nào thì do nhân dân huyện đó trực tiếp bầu. Thí dụ: Huyện Tiên lữ có 18 xã và thị trấn, bình quân mỗi xã có 2 đại biểu thì số đại biểu HĐND tỉnh thuộc cấp xã trong toàn huyện là 36 đại biểu. Vậy số đại biểu HĐND tỉnh thuộc cơ quan huyện Tiên lữ là 36/8 x 1 = 5 đại biểu; thuộc cơ quan tỉnh chia về huyện là 36/8 x 1 = 5 đại biểu. Tổng số đại biểu HĐND tỉnh được bầu trong huyện là 36 + 5 + 5 = 46 đại biểu. Bình quân mỗi huyện thị có 35 đại biểu, thì đại biểu HĐND 10 huyện thị trong cả tỉnh khoảng 350 người. HĐND tổ chức theo cách này gọn nhẹ và hiệu quả. Cũ, nhân sự: tỉnh 50, huyện 10 x 35 = 350, xã 161 x 25 = 4025. Tổng: 4425. Trước, HĐND xã, huyện cồng kềnh, hình thức, kém hiệu quả. Nay, HĐND tỉnh là một mạng thống nhất từ tỉnh xuống xã sẽ chỉ đạo nhất quán và kịp thời.

III TỔ CHỨC BẦU CỬ QUỐC HỘI

Việc giới thiệu và chọn nhân sự để bầu đại biểu Quốc hội theo cách sau:

Thí dụ:Tỉnh H được Hội đồng bầu cử phân bổ số đại biểu đắc cử là 7,trong đó Trung ương gửi2.Phân bổ cho mỗi lĩnh vực được 1 -2 đại biểu đắc cử. Cụ thể là 1 đại biểu đắc cử.Số đơn vị bầu cử là3.Số đại biểu đưa ra bầu là 14 (hai chọn một).

Ngành nào Trung ương gửi 1 thì tỉnh giới thiệu thêm 1. Để đảm bảo tính khách quan. Vì bầu cử Quốc hội nhiệm kỳ qua đã có đại biểu trên gửi không trúng!

Các bước tiến hành:

Bước một: Uỷ ban bầu cử Quốc hội của tỉnh triệu tập Ban bầu cử Quốc hội của các huyện, thị xã và các cơ quan liên quan được phân bổ đại biểu ứng cử theo cơ cấu để triển khai, quán triệt toàn bộ kế hoạch bầu cử từ lúc đầu cho đến khi kết thúc.

Bước hai: Ban bầu cử huyện, thị xã triển khai tiếp cho cấp dưới của mình theo hướng dẫn của tỉnh.

Bước ba: Các ngành được phân bổ đại biểu ứng cử, triển khai tiếp phần liên quan thuộc phạm vi của mình: các đơn vị thuộc quyền của ngành mình, quán triệt cho mọi thành viên về tiêu chuẩn của Đại biểu Quốc hội. Động viên khích lệ mọi người dựa theo tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội mà ứng cử hoặc đề cử người ở đơn vị mình và cả các đơn vị bạn trong ngành (không hạn chế số lượng).

Hướng dẫn những người ứng cử và được đề cử (gọi chung là “người ứng cử”), làm các thủ tục như một đại biểu đắc cử, nhưng chưa cần ảnh, nộp về Ban bầu cử của huyện theo thời hạn đã định.

Bước bốn: Ban bầu cử của huyện, thị xã vạch lịch họp với các đại biểu của từng ngành theo danh sách và hồ sơ ứng cử của từng đại biểu ứng cử của ngành đó gửi lên, để tổ chức từng ngành hiệp thương, mỗi ngành bầu chọn lấy hai đại biểu cho huyện mình đi dự hiệp thương ngành ở cấp tỉnh. Sau khi Ban bầu cử quán triệt và hướng dẫn cho các đại biểu (có tên trong danh sách ứng cử) hiệp thương theo luật (mới):

Từng đại biểu tự đọc tiểu sử tóm tắt của mình.

  1. a) Các đại biểu cân nhắc và tự nguyện xin rút (không gò ép).
  2. b) Các đại biểu, biểu quyết giơ tay, cho ai rút hay không được rút khỏi danh sách để bầu chọn. Những ai đã được quá nửa tổng số đại biểu có mặt đồng ý cho rút thì không để tên trong danh sách để bầu chọn.
  3. c) Các đại biểu bỏ phiếu kín bầu chọn người thứ nhất có nhiều phiếu nhất ở vòng đầu (nhưng phải được quá nửa số đại biểu có mặt tín nhiệm) Nếu chưa bầu chọn được, thì phải tổ chức bầu chọn lần hai, lần ba, … theo nguyên tắc loại dần người có phiếu thấp, đến cuối cùng thì trong hai chọn một.
  4. d) Các đại biểu bỏ phiếu kín chọn người thứ hai. Cách tiến hành như lần trước. (Không được bầu gộp hai lần làm một).

đ) Ban bầu cử của huyện kiểm phiếu và: “Mời các đại biểu giám sát kiểm phiếu!” (tự nguyện, không hạn chế số lượng).

Khi công bố kết quả xong thì Ban bầu cử nhắc:“Xin mời các đại biểu phúc tra!”. Đại biểu có thể tự mình phúc tra kết quả tại chỗ bằng cách mà mình muốn.

  1. e) Đọc biên bản kết quả hiệp thương ngành của huyện.
  2. f) Uỷ ban bầu cử huyện nắm biên bản và hồ sơ của các đại biểu đã được các ngành bầu chọn. Kết thúc hiệp thương các ngành trong huyện.

Bước năm: Ban bầu cử của huyện tổ chức lấy ý kiến cử tri nơi cư trú của các đại biểu đã được bầu chọn (không biểu quyết). Cử tri đã phát hiện đúng đại biểu nào có vi phạm ảnh hưởng đến tiêu chuẩn thì kiên quyết xoá tên. Trường hợp ngành nào bị xoá tên hết những đại biểu đã được bầu chọn, thì ngành đó phải tổ chức hiệp thương lại (những người đã bị cử tri phát hiện có vi phạm phải xoá tên, thì không còn trong danh sách lần hiệp thương sau). Những đại biểu mới chọn, phải thực hiện bước năm.

Bước sáu: Ban bầu cử của huyện, tổng hợp và gửi toàn bộ hồ sơ của các đại biểu được bầu chọn cho Uỷ ban bầu cử tỉnh.

Bước bảy: Uỷ ban bầu cử tỉnh vạch lịch cho từng ngành liên quan của tỉnh tổ chức hiệp thương. Cách thức tiến hành hiệp thương ngành của tỉnh, như ngành của cấp huyện. Nhưng số đại biểu của từng ngành có đại biểu ứng cử trong tỉnh được chọn là 2 hay 3 (cụ thể của tỉnh H) do Uỷ ban bầu cử tỉnh quyết định cho phù hợp với cơ cấu và đủ số lượng giới thiệu cho dân bầu. Đến giờ phút cuối cùng (Ngày thứ 10 trước ngày bầu cử), mà vẫn có đại biểu bị xoá tên thì Uỷ ban bầu cử tỉnh căn cứ vào cơ cấu và biên bản bầu chọn của các ngành mà bổ sung cho đủ số lượng qui định cho dân bầu.

Bước tám: Uỷ ban bầu cử tỉnh bổ sung, hoàn tất các hồ sơ của các đại biểu theo quy định (mẫu nào, bao nhiêu bản, có dán ảnh theo quy định, có xác nhận của cơ quan nào, cấp nào…) và báo cáo lên Hội đồng bầu cử của Quốc hội theo quy định.

Bước chín: Hoàn tất các công việc còn lại cho ngày bầu cử.

Cũ, MTTQ (“cánh tay kéo dài của Đảng”) tổ chức hiệp thương.

Mới, do những người ứng cử tự hiệp thương với nhau. Như thế,đãloại trừ được bọn cơ hội và chọn được Hiền- Tài, tránh được sự lũng loạn từ mọi phía.

Chỉ khi nào loại bỏ được sự lũng loạn từ mọi phía,và có cơ chế chặt chẽ, tránh dân chủ hình thức, lúc đó mới có dân chủ thật sự!

Có thế, Bầu cử mới trở thành đợt sinh hoạt chính trị, ngày hội lớn của toàn dân!

IV – VIỆN Ý DÂN, là một tổ chức chuyên trách:

  1. a) Thăm dò ý dân, là tổ chức điều tra thăm dò một vài đối tượng trong phạm vi rộng hẹp nào đó về một mục dích yêu cầu đặt ra.
  2. b) Trưng cầu ý dân về Hiến pháp, luật và về các vấn đề trọng đại của đất nước. Nhân dân ủy thác cho tầng lớp trí thức, thay mặt nhân dân bày tỏ quan điểm của mình, nhưng không được phản lại quyền làm chủ của nhân dân, để Quốc hội hoàn thiện văn bản trước khi đưa ra nhân dân phúc quyết.
  3. c) Phúc quyết là quyền quyết định cuối cùng của nhân dân về những vấn đề đã được quy định trong Hiến pháp, luật.

Sự việc có liên quan đến cấp nào, nơi nào thì tổ chức hỏi ý dân ở cấp đó, nơi đó.

Nhân dân trực tiếp thực hiện quyền phúc quyết đối với việc thông qua và sửa:

  1. Hiến pháp;
  2. Luật bầu cử Tổng thống, Quốc hội và Hội đồng nhân dân;
  3. Luật Tổ chức và hoạt động của các Bộ máy quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội;
  4. Luật Phân cấp, phân mức giữa phúc quyết với trưng cầu ý dân về những vấn đề trọng đại của đất nước;
  5. Luật Phân cấp, phân mức việc làm luật và ban hành các văn bản dưới luật.

VIỆN Ý DÂN, hướng dẫn các địa phương về nghiệp vụ tổ chức trưng cầu ý dân, điều tra công luận… và tổ chức triển khai việc thực hiện quyền phúc quyết của nhân dân hiệu quả, đúng Hiến pháp, luật.

VIỆN Ý DÂN, chuẩn bị các dự án luật trình Quốc hội thông qua về những vấn đề liên quan tới việc thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình và vấn đề phát sinh.

V – TÀI CHÍNH – NGÂN SÁCH NHÀ NƯƠC:

Nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, mọi người làm Người, trên mọi lĩnh vực của đất nước. Tài chính – ngân sách nhà nước là một trong những khâu then chốt của quyền làm chủ đó.

Tổng thống được cử tri cả nước ủy nhiệm lãnh đạo công tác Tài chính – ngân sách nhà nước thông qua Hội đồng Tài chính – ngân sách do Chủ nhiệm Ban Tài chính – ngân sách nhà nước thường trực.

VI – HỘI ĐỒNG BẦU CỬ :

Tổng thống được cử tri cả nước ủy nhiệm lãnh đạo công tác bầu cử Quốc hội. Giúp việc cho Tổng thông trong công tác này có Ban tổ chức – nhân sự và Viện ý dân do Giám đốc Viện ý dân thường trực.

VII – HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN:

Hội đồng lý luận do Tổng thống lãnh đạo, Ban nghiên cứu lý luận giúp việc, Chủ nhiệm Ban nghiên cứu lý luận thường trực.

Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận về Nhà nước do nhân dân làm chủ, về kinh tế – xã hội và về các mặt cần thiết khác.

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *