Đôi lời về bài viết của Thế Anh và đôi lời với Thế Anh

ĐÔI LỜI VỀ BÀI VIẾT CỦA THẾ ANH
(Đã tung lên mạng)

                                                                                        Kĩ sư. Đỗ Minh Xuân

Thế Anh tung lên mạng bài viết với tiêu đề và đoạn dẫn:

Sao ông Vũ Khiêu lại nối giáo cho việc sửa Truyện Kiều vô lối?
Tác giả: Thế Anh. (Đào Nguyên si)

Gửi Soi,

Có một việc bức xúc, tuy không liên quan đến mỹ thuật nhưng nói đến chắc họa sĩ nào cũng cảm được. Đó là Truyện Kiều của Nguyễn Du gần đây đã bị xâm hại, mà người khuyến khích cho việc làm hỗn hào này, tiếc thay lại chính là giáo sư Vũ Khiêu!

Tác giả Thế Anh có một bài về việc này. Tôi sưu tầm lại, rất mong Soi đăng lên để mọi người cùng góp tiếng nói.

Cám ơn Soi.

Đào Nguyên

Kèm bài viết với tiêu đề:

Xin đừng dung tục hóa và hạ thấp văn chương Truyện Kiều

Thế Anh (Đào Nguyên si)

Mới xem tiêu đề, tưởng đây là một bài “Phê bình văn học” hay. Nhưng khi đọc mới thấy, đó chỉ là bài phản ánh sự bức xúc nội tâm của Thế Anh về việc Cụ Vũ Khiêu đã viết lời giới thiệu đánh giá đúng công trình nghiên cứu: “Truyện Kiều – Nguyễn Du khảo dịch ra tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng và trong sáng” của một người ngoại đạo, Kĩ sư. Đỗ Minh Xuân. Cụ Vũ Khiêu viết:

“Nhà văn Đỗ Minh Xuân đã đến với tiếng khóc của Truyện Kiều một cách ngẫu nhiên. Ông tưởng chỉ đọc cho vui. Không ngờ cuộc đời của Thúy Kiều và lời văn của Nguyễn Du đã lôi cuốn ông suốt bao năm tháng. Ông đã dồn tâm huyết đi sâu vào từng trang, từng câu, từng chữ của Truyện Kiều. Với một tinh thần khoa học rất nghiêm túc, ông tìm lại hầu hết các bản Truyện Kiều từ trước đến nay, so sánh các dị bản. Ông đã tìm đọc hầu hết các bài đã bình luận, phân tích tác phẩm và tác giả Truyện Kiều. Từ đó ông đã có ý tưởng lớn là làm thế nào phổ cập hóa Truyện Kiều cho quảng đại công chúng. Ông gạt bỏ những câu chữ khó hiểu từ tiếng Hán để thay bằng ngôn ngữ thuần Việt trong Truyện Kiều. Ngoài bản này, ông đã in thêm vào sách những câu từ nguyên bản của Nguyễn Du để độc giả thấy được cảm xúc sâu sắc và bút pháp tài tình ở nhà thơ lớn nhất của dân tộc ta.

“Tôi hoan nghênh công phu nghiên cứu của ông Đỗ Minh Xuân và tin rằng cuốn sách này của ông là một đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu Truyện Kiều và ông đã góp thêm một tiếng khóc nữa vào tiếng khóc của người đời đã khóc Tố Như và đang giải phóng cho những số phận mà Tố Như đã khóc.”

Lời đánh giá này hoàn toàn đúng với thực chất của công trình nghiên cứu ấy.

Nhưng không rõ dựa trên cơ sở nào, Thế Anh lại cho Bản khảo dịch Truyện Kiều của tôi là:

Dung tục hóa và hạ thấp văn chương Truyện Kiều

Tôi không bàn về ngôn từ “vô lối” “hỗn hào” (như tiêu đề và đoạn dẫn) cũng như lương tâm và đạo lý của người viết, mà chỉ làm rõ việc Thế Anh đã võ đoán nhận xét đánh giá về một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc của tôi và nghiêm trọng hơn là đã nặng lời (tôi xin phép dùng từ “nặng lời” thay cho từ “hỗn hào” của Thế Anh) với GS Vũ Khiêu, AHLĐ, bậc đàn anh, bậc thày trong giới nho học của đất nước ta hiện nay.

Tiêu đề: “Xin đừng dung tục hóa và hạ thấp văn chương Truyện Kiều” của Thế Anh rất đúng và rất chính xác. Nhưng phải hiểu thế nào là dung tục hóa và hạ thấp văn chương Truyện Kiều?

“Truyện Kiều – Nguyễn Du khảo dịch ra tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng và trong sáng” của tôi, là nhằm góp phần làm sáng tỏ một phần “dị bản” trong các bản đối dẫn (1. Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh. 2. Truyền Kiều – Nguyễn Du của Nguyễn Thạch Giang. 3. Truyện Kiều – Nguyễn Du, văn bản hướng tới phục nguyên của Nguyễn Khắc Bảo). Đồng thời phát hiện, hiệu đính các câu chữ mà tôi cho là không phải thơ của Nguyễn Du.

Như thế, Bản khảo dịch của tôi cũng làm điều mà Thế Anh muốn và Nguyễn Khắc Bảo cần: “Câu chữ nào của Nguyên Du xin trả lại Nguyễn Du”. Nhưng phải dựa vào đâu để xác định? Nếu có bản gốc thì mới biết được chữ. Còn lời phải “đoán đọc” thì làm thế nào? Như “ ” trong câu 57 có bản viết “sè sè”, “sờ sờ”, tôi dịch là “se se”?

Việc thất lạc bản Truyện Kiều gốc, như bức tranh vẽ rồng khúc hiện, khúc ẩn trong mây. Khúc hiện không bàn! Khúc ẩn, phải “vẽ” (dịch) đó vẫn là “rồng”, không là “rắn”!

Điều đó phụ thuộc hoàn toàn vào sự tài giỏi của người dịch! Ngay khi dịch ra quốc ngữ, dựa theo bản gốc (bút tích của Nguyễn Du), liệu đã dịch đúng “lời thơ” của Nguyễn Du? Như “sờ sờ”, “sè sè”, “se se” đã nêu.

Bởi vậy, không vì “phục nguyên” mà “vội” theo bản “cổ sai”, bỏ qua bản “kim đúng”; theo cái “nhiều dở”, bỏ qua cái “ít hay”; hoặc “chữ gốc” còn, “lời gốc” mất.

Tính nhân văn, tính tư tưởng, tính thơ của Truyện Kiều đã có sức hấp dẫn kỳ lạ, nhanh chóng lan tỏa trong dân gian qua truyền miệng. Đó là thành công kiệt xuất, độc nhất vô nhị, của Nguyễn Du.

Ngày nay, đã có quốc ngữ. Trong thời đại bùng nổ thông tin, mỗi người cần phải tiết kiệm từng phần ngàn, phần vạn giây để tiếp thu nhiều thông tin quan trọng khác, nên ít có thời gian để tra cứu thì Truyện Kiều phải gắn với tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng và trong sáng.

Có thế, mới giải tỏa được nỗi trăn trở, băn khoăn, day dứt của Nguyễn Du:

Bất tri tam bách dư niên hậu,


Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.

Nhà thơ Xuân Diệu dịch:

Ba trăm năm nữa mơ màng,
Có ai thiên hạ khóc chàng Tố Như.

Truyện Kiều được Nguyễn Du viết bằng chữ nôm, cách đây đã hơn 200 năm. Hiện nay, Truyện Kiều đã có các bản quốc ngữ. Nhưng do rào cản về các tích điển, từ Hán, từ cổ, từ địa phương… buộc người đọc phải tìm đến các chú giải của các nhà nghiên cứu, mới mong nắm được “Hồn gốc” của Truyện Kiều. Bởi vậy, số người đọc Truyện Kiều ngày nay, không còn thịnh như trước đây.

Để khi đọc, mọi người nắm được trực tiếp “Hồn gốc” của Truyện Kiều (vì có câu chưa hẳn là “Lời gốc”) và cũng nhằm giải tỏa được nỗi trăn trở, băn khoăn, day dứt của Nguyễn Du. Người viết Bản khảo dịch này hy vọng:

Hữu d­ư tam bách niên dĩ hậu


Thiên hạ văn đàn thịnh Tố Nh­ư

Dịch:

Ba trăm năm hẳn có thừa,
Thiên hạ vẫn đọc say sưa Truyện Kiều.

Hơn thế, dịch sao cho các em học sinh (từ cấp I đến cấp III) hiểu ngay, thích thú đọc, học, hiểu Truyện Kiều. Qua đó, gieo vào tâm hồn các em, tính nhân văn, tính tư tưởng, tính thơ của Truyện Kiều. Thay cho game độc hại và xã hội đen đang hàng ngày hàng giờ rình rập len lỏi vào tâm hồn các em. Bồi dưỡng cho các em có tư tưởng trong sáng và rộng lớn xót thương số phận của mỗi con người, của cả loài người. Xây dựng thế hệ con người Việt Nam mới làm chủ đất nước làm chủ xã hội, mọi người làm Người theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Có thế, Truyện Kiều ­- Nguyễn Du mới trở thành một trong những công cụ hữu hiệu chính để xây dựng xã hội mới ổn định văn minh.

Để hoàn thành bản khảo dịch tặng cho Thế Anh 15-12-2012, tôi đã giành trên 5 năm lao tâm khổ tứ mới được Cụ Vũ Khiêu đánh giá như trên. Thế mà, Thế Anh mới chỉ “lướt qua” đã viết ngay được bài gửi đăng trên Tạp chí THƠ – Hội Nhà văn Việt Nam – số 1&2 – 2013 và tung lên mạng, cho tôi là “hỗn hào” sửa Truyện Kiều một cách “vô lối” là nhằn mục đích gì?

Về mặt nhận thức, nhiều người hiểu được, không một ai có quyền sửa tác phẩm của người khác, mà chỉ có quyền viết bài phê bình, bình luận về tác phẩm, tác giả!

Mục tiêu của phê bình, bình luận tác phẩm, tác giả văn học là giúp cho mọi người thấy được cả hai mặt: “được” và “chưa được” hoặc “còn hạn chế” của tác phẩm. Để người viết biết mà rút kinh nghiệm và lưu tâm người đọc suy ngẫm và phân tích tiếp.

Các bản Kiều nôm đã phát hiện được đến nay, đều không phải là bản gốc.

Như vậy, không một ai có quyền “chắp tay sau đít”, nhân danh “người trong đạo” hoặc nhân danh bất cứ ai để lên án công trình nghiên cứu của người này, kết tội bài viết của người kia!

Tôi xin nêu một vài dẫn cứ trong bài viết của Thế Anh.

  1. Bác việc tôi thay các từ Hán “xuân” “huyên”;
  2. Bác việc tôi thay “Se se” cho “Sè sè”, “Sờ sờ” trong câu 57-58, mà tôi đã phân tích: {Câu 57-58: “Se se nấm đất bên đàng,” “Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.”. Theo tôi “Se se” mới là lời thơ của Nguyễn Du. Người tả nấm mồ vừa mới đắp, đất mới hơi se se, cỏ chưa hồi phục hẳn vẫn còn nửa vàng nửa xanh. TĐTK: [sè sè: hình dung cái gì thấp sát đất.]; TĐTV: [sè sè: là vật thể hình khối thấp]. Phải khẳng định rằng: “sè sè” là tượng thanh không phải là tượng hình. Đây là một sự lầm lẫn đáng tiếc! Câu 58, TĐTK viết “Rầu rầu” là chưa bảo đảm sự trong sáng của tiếng Việt. Bởi “rầu rầu” là chỉ trạng thái tâm lý, là buồn bã}.
  3. Bác việc tôi thay “Tử”  là “chết” cho “Tử”  là “cây thị” trong câu 77.  Như vậy, câu 77 cũ “Sắm sanh nếp tử xe châu,” “nếp tử” ở đây là phong tục giành cho người chết chứ không phải là quan tài bằng gỗ thị. Vì câu 71-72: “Buồng không lặng ngắt như tờ” “Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.” Chẳng đã nói rõ là Đạm Tiên đã được chôn trước khi người khách viễn phương đến. Có thế, tôi mới dịch lại câu 77-78: “Sắm sanh lễ mọn đội đầu,” “Tay cầm một nắm mặc dầu cỏ hoa.”. (Lời bản tặng T.A!)

Những dẫn cứ trên sáng rõ như vậy! Thế mà Thế Anh vẫn không hiểu hay là cố tình không thèm hiểu?

Đâu chỉ có vậy! Dưới đây là những dẫn cứ tiếp.

1 – Mở đầu, dẫn cứ của Thế Anh đã có điều chưa đúng:

  1. a) Thế Anh viết:

[Khái niệm khảo dịch của tác giả cuốn sách cũng không chính xác, vì thực chất ông đâu có dịch mà chỉ chữa lại văn của Nguyễn Du một cách vụng về. Chẳng hạn ông đã thay chữ “nghĩ” trong 4 câu Kiều bằng chữ khác:

C12: Gia tư ông cũng thường thường bậc trung;

C610: Vì nàng ông cũng thương thầm xót vay;

C894: Phía ngoài cũng đã giục liền ruổi xe;

C1182: Dơ tuồng hắn mới kiếm đường tháo lui.

Ông cho rằng những chữ vừa thay đã làm cho 4 câu thơ trên nâng lên một tầm cao mới]

Đây là nguyên văn của tôi viết:

[Từ “nghỉ” (ph.) ngôi thứ ba (cổ) trong các câu 12, 610, 894, 1188:

12: Gia tư ông (nghỉ) cũng thường thường bậc trung (Vương ông);

610: Vì nàng ông (nghỉ) cũng thương thầm xót vay (Chung ông);

894: Phía ngoài cũng (nghỉ) đã giục liền ruổi xe (Giám Sinh), ẩn ngôi;

1188: Dơ tuồng hắn (nghỉ) mới kiếm đường tháo lui (Sở Khanh).

Thay xong, sắc thái của 4 câu thơ trên đã được nâng lên một tầm cao mới.]

Thế Anh phủ định “sắc thái của 4 câu thơ trên đã được nâng lên một tầm cao mới”. Đó là thuộc về trình độ nhận thức của Thế Anh. Tôi không trách! Nhưng tôi chỉ trách là Thế Anh chưa đọc các tài liệu đối dẫn mà đã vội khẳng định bốn từ nghĩ (dấu ngã) là của Nguyễn Du. Đúng là trong bản Kiều nôm chữ ấy âm Hán đọc là nghĩ. Thế Anh đọc là nghĩ (dấu ngã) còn tôi đọc là nghỉ (dấu hỏi). Các bản đối dẫn: Nguyễn Thạch Giang đều viết bốn câu trên lả nghỉ (dấu hỏi);  Nguyễn Khắc Bảo và Đào Duy Anh thì câu 12 và 610 cũng viết là nghỉ (dấu hỏi). Như vậy nghĩ (dấu ngã) chỉ chiềm 4/12 từ mà thôi. Vậy, Thế Anh với tư cách nào mà bắt bẻ cách đọc của người khác?

  1. b) Thế Anh viết: [Câu 2042: Lạ lùng nàng vẫn tìm đường nói quanh được chữa lại là Lạ lùng Kiều tạm tìm đường nói quanh rồi tự khen chữ “tạm” của mình hay hơn chữ “vẫn” của Nguyễn Du(!)].

Tôi không tranh luận về câu chữ, mà chỉ nêu lên sự to gan của ông Thế Anh là “nói không thành có, nói có thành không!” Vì Nguyễn Du viết bằng chữ nôm chứ bằng chữ quốc ngữ đâu mà bắt bẻ. Hơn nữa, chữ “vẫn” là do tôi viết chứ các bản đối dẫn làm gì có mà bảo chữ “vẫn” đó là của Nguyễn Du?

  1. c) Câu 2062 tôi viết: “Bóng hoa rợp đất ve ngân vang trời” (bản gửi T.A) hoặc “Hoa rơi đầy đất ve ngân vang trởi” (bản hiện nay). “Ve ngân vang trởi” là cảnh thực của tiết trời “vừa độ cuối xuân”. Và đây mới là ý thơ của Nguyễn Du. Còn “Bóng hoa đầy đất vẻ ngân ngang trời” thì tôi chẳng hiểu là tả cái gì!

Thế mà, Thế Anh dám viết: [Câu 2062: Bóng hoa rợp đất, vẻngân ngang trời, ông chữa lại: Bóng hoa rợp đất vengân ngang trời mới hợp với thực tế v.v… và v.v…].

2 – Ngôn từ trong văn chương phải gắn với văn cảnh. Thế mà, Thế Anh lại tách “từ” “chữ” ra khỏi câu văn rồi so sánh với  “từ” “chữ” mà ông gọi là của Nguyễn Du để lên án một cách vô cớ.

3 – Văn là người! Thiếu một dấu phẩy “,” nội dung câu văn cũng đã khác. Thế mà, khi dẫn ý của người khác, Thế Anh đã cắt đầu, xén đuôi câu văn, rồi kết luận theo ý chủ quan của mình là nhằm mục đích gì?

Trong Lời nói đầu tôi viết: [Hy vọng, bản khảo dịch Truyện Kiều này, Nguyễn Du sống lại cũng phải thốt lên: “Hậu sinh khả úy!” (In nghiêng là đoạn Thế Anh trích). Nếu được như vậy, thì tôi cũng có được chút nghĩa “đèo bòng” với Nguyễn Du].

Nếu đoạn trích của Thế Anh nằm trong hai câu trên có cụm từ “Hy vọng” và “Nếu được như vậy” thì người đọc đâu có cho tôi là bất nhã bất khiêm!

4 – Tên bài viết, Thế Anh đã gán cho “Truyện Kiều – Nguyễn Du khảo dịch ra tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng và trong sáng” của tôi là “dung tục hóa và hạ thấp văn chưong Truyện Kiều”!

Không!

Chính bài viết của Thế Anh mới là “dung tục hóa và hạ thấp văn chưong Truyện Kiều”!

5 – Trên mạng Thế Anh cỏn đụng đến Cụ Vũ Khiêu, Giáo sư, Anh hùng lao động. Biết Cụ là một trong những bậc thày về Hán học mà tôi mới nhờ Cụ viết lời giới thiệu.

Cụ suy nghĩ viết lời giới thiệu cho tôi từ tháng 10 năm 2010. Cái khó của Cụ là viết sao không ảnh hưởng đến Nguyễn Du và tình cảm của mọi người đối với nhà thơ lớn của dân tộc ta. Nhưng vẫn đánh giá đúng thành công đích thực của bản khảo dịch.

6 – Từ nay, dù có tìm thấy bản “Kiều nôm gốc” chúng ta cũng chỉ hy vọng tiếp cận với “hồn gốc” của Truyện Kiều.

Như vậy, trong lúc chưa tìm thấy bản Kiều nôm gốc thì “chữ” của các bản Kiều nôm và “lời” của các bản Kiều quốc ngữ hiện có đều là do truyền miệng. Thế mà, Thế Anh đã vội “loa lên”, “nhục mạ” người này người khác là “sửa thơ của Nguyễn Du”, chẳng là việc làm vô lối?

7 – Thế Anh có nói đến tôi tặng các đại biểu dự hội thảo 15-12-2012 tại Khu di tích Nguyễn Du bản khảo dịch nêu trên. Ngoài bìa sách tôi đều ghi: “Bạn đọc hồi âm sai lỗi và tham góp cho 0127.4538198”. Bởi vì, tôi cho đây là dịp may hiếm có. Hy vọng sẽ nhận được sự tham góp của các vị Nho học và Kiều học để sửa bản thảo. Nhưng, ông Thế Anh đã không hồi âm “tham góp” cho tôi, mà ngược lại đã làm rùm lên trên công luận cho tôi là “dung tục hóa và hạ thấp văn chưong Truyện Kiều”!

Tuy vậy, tôi vẫn cám ơn ông Thế Anh! Qua bài viết của ông đã giúp tôi tăng thêm “sự cẩn trọng” của mình trong quá trình khảo dịch và phát hiện các chỗ sai để sửa. ./.

GHI CHÚ

Bản Truyện Kiều phô tô (viết trong exel) gửi cho Thế Anh 15-12-2012, những câu có tham góp “từ”, “ý” mới (dấu “ * ”) là 935 câu, đến nay dấu (*) cũ còn là 604 câu.  Tổng số “từ”, “ý” tham góp của bản khảo dịch hiện nay là 1999/3254 = 61,43% số câu của Truyện Kiều.

Bạn đọc hãy tìm đọc trên website: www.nhandanlatatca.vn Truyện Kiều do tôi khảo dịch mới thấy hết giá trị địch thực của công trình nghiên cứu ấy.


PHỤ LỤC

I. LỜI GIỚI THIỆU
THÊM MỘT TIẾNG KHÓC TỐ NHƯ
GS Vũ Khiêu

Không đợi 300 năm nữa, mà ngay sau khi Tố Như qua đời, người người qua các thế hệ nối tiếp nhau đã khóc Tố Như.

Khóc Tố Như là tiếng khóc từ những tâm hồn trong sáng và rộng lớn, xót thương số phận của cả loài người.

Tiếng khóc của Thúy Kiều trước mả Đạm Tiên là tiếng khóc của Tố Như trước kiếp đoạn trường của Thúy Kiều và cũng là tiếng khóc của người đời trước cuộc đời và sầu hận của Tố Như.

Nhà văn Đỗ Minh Xuân đã đến với tiếng khóc của Truyện Kiều một cách ngẫu nhiên. Ông tưởng chỉ đọc cho vui. Không ngờ cuộc đời của Thúy Kiều và lời văn của Nguyễn Du đã lôi cuốn ông suốt bao năm tháng. Ông đã dồn tâm huyết đi sâu vào từng trang, từng câu, từng chữ của Truyện Kiều. Với một tinh thần khoa học rất nghiêm túc, ông tìm lại hầu hết các bản Truyện Kiều từ trước đến nay, so sánh các dị bản. Ông tìm đọc hầu hết các bài đã bình luận, phân tích tác phẩm và tác giả Truyện Kiều. Từ đó, ông đã có ý tưởng lớn là làm thế nào phổ cập hóa Truyện Kiều cho quảng đai công chúng. Ông gạt bỏ những câu chữ khó hiểu từ tiếng Hán để thay bằng ngôn ngữ thuần Việt trong Truyện Kiều. Ngoài bản này, ông đã in thêm vào sách những câu từ nguyên bản của Nguyễn Du để độc giả thấy được cảm xúc sâu sắc và bút pháp tài tình ở nhà thơ lớn nhất của dân tộc ta.

Tôi hoan nghênh công phu nghiên cứu của ông Đỗ Minh Xuân và tin rằng cuốn sách này của ông là một đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu Truyện Kiều và ông đã góp thêm một tiếng khóc nữa vào tiếng khóc của người đời đã khóc Tố Như và đang giải phóng cho những số phận mà Tố Như đã khóc.

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2012


(Để đảm bảo tính trung thực, tôi đã download từ mạng)

Xin đừng dung tục hóa và hạ thấp văn chương Truyện Kiều

  • THẾ ANH
  • Thứ bảy, 16 Tháng 3 2013 05:55
  • font size

Trong cuộc hội thảo về Dòng chảy văn hóa xứ Nghệ từ Truyện Kiều đến phong trào Thơ Mới tổ chức vào ngày 15. 12. 2012 tại Khu di tích Nguyễn Du – Nghi Xuân -Hà Tĩnh mỗi đại biểu tham dự được tặng một cuốn sách (bản photo) có nhan đề Truyện Kiều Nguyễn Du với tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng và trong sáng, do KS. Đỗ Minh Xuân khảo dịch- Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin in năm 2012 và có lời Đề tựa của GS. Vũ Khiêu:

Với một tinh thần khoa học rất nghiêm túc, ông tìm lại hầu hết các bản Truyện Kiều từ trướcđến nay, so sánh các dị bản, ông tìm đọc hầu hết các bài đã bình luận, phân tích tác phẩm và tác giả Truyện Kiều. Từ đó, ông đã có ý tưởng lớn là làm thế nào để phổ cập hóa Truyện Kiều cho quảng đại công chúng, ông gạt bỏ những câu chữ khó hiểu từ tiếng Hán để thay bằng ngôn ngữ thuần Việt trong Truyện Kiều… Tôi hoan nghênh công phu nghiên cứu của ông Đỗ Minh Xuân và tin rằng cuốn sách này của ông là một đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu Truyện Kiều…

Không hiểu cuốn sách này đã được Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin in và phát hành chưa, vì chúng tôi không thấy xuất hiện trên thị trường sách ở Hà Nội, vả lại cách bố cục của cuốn sách cũng có những nét đặc biệt khác với thông lệ của một ấn phẩm văn chương, chẳng hạn trong lời mở đầu cuốn sách tác giả đã có lời Kính cáo cụ Nguyễn Du và xin phép cụ để xuất bản bản khảo dịch Truyện Kiều này vì ông cho rằng người đọc Truyện Kiều ngày nay, không còn thịnh như trước đây do rào cản về điển tích, từ Hán, từ cổ, từ địa phương…Tiếp theo là Lời nói đầu(16 trang) và cuối mỗi trang đều có một câu Lời nói đầu, Truyện Kiều với tiếng Việt hiệnđại (Đánh dấu tuổi 80, bản in 15-11-2012). Sau đó là văn bản Truyện Kiều thì lại đánh số trang bằng tiếng Pháp (từ page 1 đến page 109 và cuối cùng là lời Tự bạch cho Truyện Kiều 15-11-2012 (16 trang) nhưng thực chất là bản tự thuật của tác giả theo kiểu liệt kê trong gia phả và kể lể công lao thành tích trong quá trình hoạt động Cách mạng mà chẳng có gì liên quan đến vấnđề nghiên cứu Truyện Kiều cả.

Trong cuốn sách tác giả có nhắc đi nhắc lại hai lần Nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Nguyễn Du, UNESCO đã công nhận Nguyễn Du là Danh nhân văn hóa thế giới. Điều này không đúng, Nguyễn Du chỉ mới được Hội đồng hòa bình thế giới quyết định kỷ niệm 200 năm (1965) ngày sinh của ông cùng với 8 danh nhân văn hóa khác của thế giới trong đó có nhà thơ La Mã Horace, nhà thơ Ý Dante, nhà bác học và là nhà thơ Nga Lômônôxôp…chứ chưa được UNESCO công nhận.

Khái niệm khảo dịch của tác giả cuốn sách cũng không chính xác, vì thực chất ông đâu có dịch mà chỉ chữa lại văn của Nguyễn Du một cách vụng về. Chẳng hạn ông đã thay chữ nghĩ trong 4 câu Kiều bằng những chữ khác:

C12: Gia tư ông cũng thường thường bậc trung

C610: Vì nàng ông cũng thương thầm xót vay

C894: Phía ngoài cũng đã giục liền ruổi xe

C1182: Dơ tuồng hắn mới kiếm đường tháo lui

Ông cho rằng những chữ vừa thay đã làm cho 4 câu thơ trên được nâng lên một tầm cao mới (!?).

Câu 2042: Lạ lùng nàng vẫn tìm đường nói quanh được chữa lại là Lạ lùngKiều tạmtìm đường nói quanhrồi tự khen chữ “tạm” của mình hay hơn chữ “vẫn” của Nguyễn Du (!).

Ông còn dùng từ đơn và lẻ thay cho từ chiếc trong các câu sauđây:

C1523: Người về chiếc bóng năm canh (Nguyễn Du)

Người về đơn bóng năm canh (Đỗ Minh Xuân)

C1526: Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường (Nguyễn Du)

Nửa in gối lẻ nửa soi dặm trường (Đỗ Minh Xuân)

C1627: Kiều từ chiếc bóng song the (Nguyễn Du)

Kiều từ đơn bóng song the (Đỗ Minh Xuân)

C1792: Buồng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân (Nguyễn Du)

Buồng không thương kẻ tháng ngàyđơn thân (Đỗ Minh Xuân)

C2231: Kiều từ chiếc bóng song mai (Nguyễn Du)

Kiều từ đơn bóng song mai (Đỗ Minh Xuân)

Trong Truyện Kiều Nguyễn Du đã dùng nhiều từ Hán – Việt và điển cố, tác giả cuốn sáchđã mạnh tay (nếu không nói là liều lĩnh) gạt bỏ và thay vào đó những từ mà ông cho là rõ nghĩa hơn và lột tả được nội dung điển tích và ý của Nguyễn Du. Chẳng hạn cha thay choxuânmẹ thay cho huyêncha mẹ thay choxuân huyên,phụ đường hay phủ đường (!) thay cho xuân đường.

Để bạn đọc có thể hình dung được một cách cụ thể hơn, chúng tôi xin nêu lên sau đây một sốtrường hợp (trong gần 1000 đơn vị từ) mà tác giả đã chữa lại văn của cụ Nguyễn Du:

 Câu Chữ của Nguyễn Du Chữ thay thế của tác giả Đỗ Minh Xuân
5 Lạ gì bỉ sắc tư phong Mõi người thứ có thứ không
136 Tay khấu cương ngựa
156 Một nền Đồng Tước Buồng đào nơi tạm
208 Giá đành tú khẩu Lời vàng ý ngọc
233 mộng triệu mộng ấy
235 mộng triệu mộng mị
238 đã dào mạch Tương đã chào vừng dương
266 Lam Kiều đánh liều
280 Lãm Thúy kiểu dáng
306 Hợp Phố chủ cũ
377 (thì) thời trân quả ngon
sẵn bày xách tay
Thời trân thức thức sẵn bày Quả ngon thức thức xách tay (!)
406 Nàng Ban, ả Tạ cũng đâu thế này Xưa nay hiếm thấy tài đâu thế này
439 đỉnh Giáp, non Thần tiên nữ giáng trần
464 Chung Kỳ ngưỡng vì
507 (trên) Bộc (trên) cỏ
512 Lứa đôi ai dễ đẹp tày Thôi – Trương Lứa đôi từng thấy những ngày trái ngang
1458 Châu – Trần còn có Châu – Trần nào hơn Lứa đôi còn có gì cần nhiều hơn
1638 Liệu như cung Quảng ả Hằng nghĩ nao? Liệu người ngoài cuộc khác vòng nghĩ sao?
1988 thiếp Lan Đình thiếp xem tình
3200 Ấy là Hồ Điệp hay là Trang Sinh Ấy là trong mộng hay là thực sinh
v.v…và v.v…

Trên đây chúng tôi chỉ mới nêu lên một số trường hợp làm dẫn chứng, còn thực tế trên cuốn sách ông Đỗ Minh Xuân đã sửa chữa thay thế khoảng 1/3 chữ nghĩa của Truyện Kiều mà ông cho là rườm rà, trùng lặp, không hay, thiếu logic, trái văn cảnh… Ông còn bắt bẻ cụ Nguyễn Du trong nhiều trường hợp chẳng hạn:

Khi cụ viết: Trải qua một cuộc bể dâu (câu 3). Ông phân tích: Trong đời người, đâu chỉ có một cuộc bể dâu? Phải dùng “mỗi” mới hợp.

Câu 935 cụ Nguyễn Du viết: Trên treo một tượng trắng đôi lông mày, ông cho rằng tượng không treo được và phải viết Trên treo thần ảnh trắng đôi lông mày.

Câu 2973: Cơ duyên đâu bỗng lạ sao, ông chữa lại là Cơ duyên tác hợp khéo saovà tự cho là hay hơn (!).

Câu 2062: Bóng hoa rợp đất, vẻngân ngang trời, ông chữa lại: Bóng hoa rợp đất, vengân ngang trời mới hợp với thực tế v.v…và v.v…

Về vấn đề phân tích và lập luận của tác giả đôi khi cũng có thể làm đề tài mua vui, chẳng hạn câu 39:Tiết vừa con én đưa thoi, ông hỏi vặn lại chẳng lẽ cứ tiết trời có én bay là mùa xuân? Như thế, ngoài mùa xuân ra thì én đi bằng hai chân để kiếm sống à?

Câu 57 – 58 theo ông Xuân phải đọc là:

Se se (chứ không phải sè sènấm đất bên đường

Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

Ông phân tích đó là nấm mồ vừa mới đắp, đất hơi se se, cỏ chưa hồi phục hẳn, nên đang còn nửa vàng nửa xanh.

Câu 77: Sắm sanh nếp tử xe châu, ông cho rằng đây không phải là quan tài bằng gỗ thịnhư nhiều người giải thích, mà chữ “tử ” ở đây phải hiểu là “chết” mới đúng, tức là nếp dành cho người chết.

Có lẽ không cần phải dẫn chứng và bình luận gì thêm, bạn đọc cũng đã hình dung được công trình khảo dịch Truyện Kiều này của ông Đỗ Minh Xuân và liệu có phải như ông khẳng định cách làm này của ông là một cuộc cách mạng (đại ngôn vô lối) mở đầu cho việc dịch Truyện Kiều sang tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng, trong sáng và nó sẽ là cơ sở ban đầu cho các thế hệ kếtiếp hoàn thiện cho việc dịchTruyện Kiều sang tiếng Việt hiện đại hay không? Ông tin rằng việc dịch Truyện Kiều ra tiếng nước ngoài cũng sẽ thuận lợi hơn và ông tự thưởng cho mình một lời khen của cụ Tố Như cũng đầy vẻ hài hước: “… Nguyễn Du có sống lại cũng phải thốt lênhậu sinh khả úy” (nguyên văn lời của ông viết ở trang 15).

Riêng suy nghĩ của chúng tôi thì văn chương của Nguyễn Du nói chung và tiêu biểu là kiệt tácTruyện Kiều đã được nhân dân ta thưởng thức và ngưỡng mộ qua nhiều thế hệ, từ những bậc thức giả đến các tầng lớp bình dân kể cả những người không biết chữ và bạn bè quốc tế cũng dành cho nhà thơ những tình cảm tốt đẹp để ca ngợi và tôn vinh. Không hiểu với tác phẩm khảo dịch này có làm cho Truyện Kiềucủa Nguyễn Du được nâng lên một tầm cao mới như tác giả khẳngđịnh hay không, hay chỉ là những câu vần vè ngây ngô làm cho văn chương Truyện Kiều bị hạthấp và dung tục hóa đến mức khôihài.
Nguồn: Tạp chí THƠ – Hội Nhà văn Việt Nam – số 1&2 – 2013


GHI CHÚ: (Của Đỗ Minh Xuân)

1/ Tôi thêm gạch chânin đậm là những chỗ có vấn đề cần phải xem xét:

Trang 8: C1182, đúng C1188;

Trang 10:

Thế Anh: “Câu 2062: Bóng hoa rợp đất, vẻngân ngang trời, ông chữa lại: Bóng hoa rợp đất, vengân ngang trời mới hợp với thực tế v.v…và v.v…”

a/ Trong cả ba bản đối dẫn đều viết: Bóng hoa đầy đất vẻ ngân ngang trời).

b/ Tôi viết: Bóng hoa rợp đất ve ngân vang trời.

Thế Anh: “Câu 77: Sắm sanh nếp tử xe châu, ông cho rằng đây không phải là quan tài bằng gỗ thịnhư nhiều người giải thích, mà chữ “tử ” ở đây phải hiểu là “chết” mới đúng, tức là nếp dành cho người chết.”

Tôi viết: …, tức là nếp (phong tục) dành cho người chết.

Trang 11:

Thế Anh: “Riêng suy nghĩ của chúng tôi thì văn chương của Nguyễn Du nói chung và tiêu biểu là kiệt tácTruyện Kiều đã được nhân dân ta thưởng thức và ngưỡng mộ qua nhiều thế hệ, từ những bậc thức giả đến các tầng lớp bình dân kể cả những người không biết chữ và bạn bè quốc tế cũng dành cho nhà thơ những tình cảm tốt đẹp để ca ngợi và tôn vinh. Không hiểu với tác phẩm khảo dịch này có làm cho Truyện Kiềucủa Nguyễn Du được nâng lên một tầm cao mới như tác giả khẳngđịnh hay không, hay chỉ là những câu vần vè ngây ngô làm cho văn chương Truyện Kiều bị hạthấp và dung tục hóa đến mức khôi hài.”

 

Đỗ Minh Xuân:

a/ Nếu đem cái “xưa” để phủ định cái “nay”, thì thực chất là chưa hiểu được nỗi trăn trở, băn khoăn, day dứt của Nguyễn Du:

Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Nh­ư

Nên mở cuộc điều tra (có tính đại diện) cho mỗi miền: Bắc, Trung, Nam và mỗi miền có hai nơi: Thành phố lớn trực thuộc trung ương một tỉnh đồng bằng (riêng Hà Tĩnh thêm huyện Nghi Xuân) xem số người thuộc các lứa tuổi 16-20, 21-25, 26-30 xem mức độ thuộc Truyện Kiều và nhờ đâu mà thuộc sẽ biết rõ. Nhưng phải ngẫu nhiên, bí mật, khách quan, khoa học. Tránh “đóng kịch”.

b/ Việc đem ý câu trong phạm vi hẹp “Thay xong, sắc thái của 4 câu thơ trên đã được nâng lên một tầm cao mới.” (câu 12, 610, 894, 1188) áp đặt cho toàn cục là nhằm mục đích gi?

Kết luận

Những chỗ tôi đặt vấn đề trong ghi chú trên:

a/ In sai hay là có dụng ý khác?

b/ Nâng quan điểm, kết luận không đúng sự thật có phải cũng là có dụng ý khác?

c/ Mở đầu T.A đã bắt bẻ về “Kính cáo…”, Tự Bạch (số TT khác). Ai đề ra thông lệ đó?

d/ Tôi nêu các vần đề trên là để bạn đọc hiểu rõ! Xin được lượng thứ: Vì đã làm mất thì giờ!

III.

(Đây là một trong những bài của bạn mạng)

1:06 Monday, 11.3.2013.

Đăng bởi TRẦN QUANG LU

Sửa là đúng, bức xúc là vớ vẩn. Và nói tác phẩm cụ Du bị xâm hại thì lại càng sai, càng chứng tỏ ông Thế Anh chả hiểu gì. Cụ Du có viết Truyện Kiều bằng chữ Quốc ngữ đâu mà bảo sửa là bị xâm hại???

Nếu chúng ta ngày nay vẫn sử dụng Hán Nôm thì chả sao, không cần phải sửa mà cũng chả ai dở hơi đi sửa làm gì. Nhưng hiện nay chúng ta đang dùng Quốc ngữ (dựa trên kí tự La Tinh để phiên âm tiếng Việt), cho nên để dễ đọc hiểu trọn vẹn một tác phẩm được chuyển ngữ từ nguyên tác Hán Nôm sang là rất khó khăn, nhất là lại đưa vào chương trình giáo dục để giảng dạy. Giáo viên dạy ngữ văn mà không hiểu Hán Nôm thì chắc chắn không thể nào giảng tác phẩm Truyện Kiều tốt được, vì có hiểu hết đâu. Việc này cũng dễ hiểu, giống như một người biết ngoại ngữ, thì đọc tác phẩm nguyên tác bao giờ cũng thấy rõ ràng và chuẩn men hơn là đọc bản dịch. Việc làm của ông Minh Xuân chẳng qua cũng chỉ là chỉnh sửa và tái bản bản dịch trước thôi. Chả có cái gì là xâm hại xâm họt gì ở đây cả.

Trước đây có câu chuyện nức tiêng trên giang hồ: Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn một lần vô tình nghe ông giáo Trương Tửu lên lớp giảng Kiều cho học sinh chuyên văn. Tướng Sơn nghe thấy ông Tửu giảng “vớ vẩn” ngứa tai quá, bèn cho tập hợp học sinh lớp lại và say sưa giảng lại Truyện Kiều suốt một ngày. Học sinh nghe xong đều lăn như bi ra mà tâm phục khẩu phục. Người dịch tác phẩm Lôi Vũ từ tiếng Trung ra tiếng Việt là giáo sư Đặng Thái Mai, khi nghe tướng Nguyễn Sơn giảng kịch Lôi Vũ cũng phải ngã mũ kính phục về trình độ Hán học uyên thâm của ông.

Ở bài trên (của Thế Anh), chỉ cần đọc qua vài câu mà ông Minh Xuân đã sửa cũng thấy nó sáng sủa về ý tứ hơn là để như cũ. Và việc giáo sư Vũ Khiêu viết lời đề tựa khen ông Minh Xuân là hoàn toàn đúng. Ông Thế Anh thắc mắc là vớ vẩn rồi. ./.


ĐÔI LỜI NHẮN GỬI ÔNG THẾ ANH

Đỗ Minh Xuân

Mọi chuyện bất đồng trong xã hội là hết sức bình thường. Nhưng,không nên biến sự bất đồng đó thành sự “cay cú”, sự “đối đầu”, “nhục mạ” nhau.

Tôi đã đọc một số bài trên mạng do ông khởi xướng “tranh luận” về công trình nghiên cứu khảo dịch Truyện Kiều của tôi. Và hiện nay, đã đụng đến tên trang web www.nhandanlatatca.vn của tôi.

Cũng qua những việc làm ấy của ông, mà một số bạn mạng đã gián tiếp (chỉ viết bài trên mạng) hoặc trực tiếp gửi thư động viên khích lệ tôi.

Như, ông Nguyễn Khôi,HỘI VĂN NGHỆ DÂN GIAN HÀ NỘI, ở 259/39 Phố Vọng, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội viết:

Xưa nay một cuốn sách ra đời: truyện khen chê là sự bình thường… Cụ Bảng nhãn Lê Quý Đôn xưa đã từng răn dạy:

“Văn chương là của thiên hạ, mỗi người một ý. Phân tích thì được chứ không nên chê mắng!”

Hoặc như, ông Vũ Viết Hưởng ở 32 Thanh Bình, TT. Thanh Miện, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương viết cho tôi bức thư dài đầy bốn mặt trang giấy có đoạn viết: Việc “hiện đại hóa” Truyện Kiều của ông, tôi đã đọc đến câu 527 (Chắc là từ trên website www.nhandanlatatca.vn của tôi). Trước hết phải công nhận sự đam mê Truyện Kiều; nỗi trăn trở giữa cổ và kim; giữa truyền thống và hiện đại; một ý tưởng rất tích cực, mạnh mẽ. Rồi phân tích tham góp cho tôi nhiều vấn đề liên quan.

Tất cả những sự động viên khích lệ trực tiếp, gián tiếp ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho tôi. Tôi rất phấn khởi!

Về mặt nhận thức, tôi hiểu được, mỗi người, trước một việc làm nào đó của mình, đều có động cơ và mục đích cụ thể.

Trong bài viết trên mạng, ông có phê phán (trích ở Phụ lục II.):

“… vả lại cách bố cục của cuốn sách cũng có những nét đặc biệt khác với thông lệ của một ấn phẩm văn chương, chẳng hạn trong lời mở đầu cuốn sách tác giả đã có lời Kính cáo cụ Nguyễn Du và xin phép cụ để xuất bản bản khảo dịch Truyện Kiều này vì ông cho rằng người đọc Truyện Kiều ngày nay, không còn thịnh như trước đây do rào cản về điển tích, từ Hán, từ cổ, từ địa phương…”

Vì tôi là dân ngoại đạo, Kĩ sư cơ khí, nên chưa hiểu các thông lệ đó. Còn tôi, chỉ có một động cơ, một mục đích là: “yêu nước, thương nòi!” Vì thế, màđã bày tỏ quan điểm tư tưởng đó. Nhưng, không làm mất thì giờ của người đọc vào những việc vô bổ!

Trong Tự Bạch năm 2015 của Đỗ Minh Xuân, tôi đã bày tỏ quan điểm tư tưởng của mình để bạn đọc xem xét:

A – VỀ TRUYỆN KIỀU:

“Hơn thế, dịch sao cho các em học sinh (từ cấp I đến cấp III) hiểu ngay, thích thú đọc, học, hiểu Truyện Kiều.

Qua đó, gieo vào tâm hồn các em tính nhân văn, tính tư tưởng, tính thơcủa Truyện Kiều. Thay cho game độc hại và xã hội đen đang hàng ngày hàng giờ rình rập len lỏỉ vào tâm hồn các em.

Bồi dưỡng cho các em có tư tưởng trong sáng và rộng lớn xót thương số phận của mỗi con người, của cả loài người.

Xây dựng thế hệ con người Việt Nam mới làm chủ đất nước làm chủ xã hội, mọi người làm Người theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Có thế, TRUYỆN KIỀU – NGUYỄN DU mới trở thành một trong những công cụ hữu hiệu chính để xây dựng xã hội mới ổn định văn minh.”

B – VỀ CHÍNH TRỊ:

Nghiên cứu về Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút ra các kết luận:

1- Từ nay, học thuyết Mác không còn là chủ thuyết đủ tầm để xây dựng xã hội mới ổn định, văn minh! (KL – 1)

2- Tư tưởng nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, mọi người làm Người của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng duy nhất đúng đắn để xây dựng xã hội mới ổn định, văn minh của loài người! (KL – 2)

3- Qua trải nghiệm của lịch sử loài người từ xưa tới nay, thì không một đảng phái chính trị, không một tổ chức, không một cá nhân và chưa có một học thuyết nào có đủ tầm để xây dựng xã hội mới ổn định, văn minh.

Ngày nay, chỉ duy nhất có nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, mọi ngườilàm Người theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới xây dựng được xã hội đó! (“Tôi rủ Năm châu đến đại đồng!” Lời tiên tri này của Bác Hồ ở đền thờ Trần Hưng Đạo tại Kiếp Bạc, Côn Sơn (1946), đến nay đã thấy nghiệm). (KL – 3)

4- Nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội bằng thực quyền trực tiếp bầu chọn và phúc quyết của mình. (KL – 4)

5- Bản chất đặc thù của các đảng phái chính trị là tranh giành quyền lực. Ngoài thì giữa đảng nọ với đảng kia và trong thì giữa phái này với phái khác. Do đó, trong xã hội do nhân dân làm chủ, thì không thể tồn tại các đảng phái. (KL – 5)

6- Nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, mọi người làm Người là xu thế tất yếu của thời đại! (KL-6)

7- Cơ chế quá độ vận hành đất nước từ nay đến khi Đảng tự giải tán: Nhân dân làm chủ, Nhà nước là công bộc (đày tớ), Đảng làtham mưu. (KL-7)

C – VỀ KINH TẾ:

Nghiên cứu về Kinh tế tôi đã rút ra các kết luận có tính quy luật:

1/ Quy luật Chuỗi vòngren logic về mối quan hệ tổng quát của nền kinh tế:

  1. Có việc làm ổn định – 2. thu nhập tăng – 3. đời sống khá giả – 3. sức mua tăng – 4. kích thích sản xuất phát triển – 5. tạo thêm nhiều việc làm – 1. có việc làm ổn định.

Mà kích thích sản xuất phát triển là quyết định “bước ren” logic ấy!

(Rút ra kết luận này vào cuối tháng 5-2009)

2/ Quy luật về tính cạnh tranh của nền kinh tế thị trường:

Cạnh tranh là bản chất đặc trưng và cũng là quy luật vận hành của nền kinh tế thị trường.

Nhưng cạnh tranh lành mạnh mới là bản chất ưu việt đặc trưng của nền kinh tế đó.

(Rút ra kết luận này vào đầu năm 2009)

3/ Quy luật vận hành – điều hành nền kinh tế thị trường lành mạnh, hiệu quả:

Điều kiện tiên quyết để vận hành – điều hành nền kinh tế thị trường lành mạnh, hiệu quả là Nhà nước phải điều chỉnh hành vi tham lam, tính ích kỷ của các doanh nghiệp bằng Luật Lợi nhuận và Phân phối lợi nhuận.

Đồng thời, nhà nước vừa phải có cơ chế loại bỏ các yếu tố nhiễu, chủ quan duy ý chí, sự lũng loạn từ mọi phía; vừa phải dự đoán dự báo chính xác điều hành linh hoạt, kịp thời bảo đảm cho nền kinh tế phát triển lành mạnh, hiệu quả.

(Rút ra kết luận này lúc 20 h, ngày 9-2-2010)

D – VỀ NHẬN THỨC CHUNG:

Muốn làm gì thì làm, nhưng trước hết hãy làm Người! Công dân phải được hưởng đầy đủ quyền cơ bản của con người chân chính, đó là quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Thiếu những quyền đó, thì thực sự chỉ là những kẻ nô lệ (kiểu mới) mà thôi!

Muốn nói gì thì nói, nhưng chỉ được phép nói sự thật có lợi cho đất nước, cho xã hội, cho con người; phù hợp với lẽ sống và đạo lý làm người!

Muốn viết gì thì viết, nhưng chỉ được phép viết sự thật nhằm động viên khuyến khích mọi người sống, làm việc theo Hiến pháp luật; tạo nên mối quan hệ xã hội hài hoà, đồng thuận, đầy tình người!

Muốn lý luận gì thi lý luận, nhưng lý luận đó phải vì nước vì dân vì con người vì loài người!

Muốn chủ nghĩa gì thì chủ nghĩa, nhưng phải làm cho “Nước mạnh, dân giàu; Xã hội dân chủ công bằng ổn định văn minh; Con người tư do bình đẳng hạnh phúc”!

Tóm lại, muốn làm gì thì làm, muốn nói gì thì nói, muốn viết gì thì viết, muốn lý luận gì thì lý luận, muốn chủ nghĩa gì thì chủ nghĩa, nhưng đừng để thua kém bạn bè!

Hãy nhìn thẳng vào sự thật, liên hệ với các nước trong khu vực, trước đây, đã một thời, họ cùng cảnh ngộ như ta, thậm chí có nước còn thua kém ta về nhiều mặt, nay họ đều đã hơn hẳn ta, có nước kinh tế phát triển hơn ta hàng chục lần và có nước đã tự đưa được người lên vũ trụ … , chẳng đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ, phải trăn trở, phải hổ thẹn sao?

Đ –NHẬN THỨC VỀ TRI THỨC:

Sự hiểu biết của mỗi người có hạn, mà tri thức của loài người thì mênh mông. Do đó mỗi người phải có ý thức bảo vệ, khai thác sử dụng kho tàng tri thức chung đó vì tương lai tốt đẹp của Loài Người.

Một trong những sai lầm lớn nhất của Loài Người, là không biết bảo vệ khai thác sử dụng kho tàng tri thức chung đó của mình, mà đã đem phần tri thức này đối chọi lại, thậm chí còn triệt tiêu phần tri thức kia.

– Thời trung cổ, người đứng đầu giáo phái này định áp đặt giáo phái kia. Đã xảy ra các “Cuộc thập tự chinh”. TTC-1(1095) đến TTC-9 và tiếp theo các TTC khác vẫn nổ ra trong ít nhất hơn 200 năm sau. Galilê phát hiện ra “Thuyết nhật tâm”, trái với “Thuyết địa tâm”, thì giáo hội Công giáo Rôma đã cấm truyền bá nó và đã quản thúc ông tại gia đến chết.

– Thời Tần Thủy Hoàng, đã đốt sách của các Triều đại trước, một kho tàng tri thức vĩ đại của nền văn minh Trung Hoa, một cái “nôi văn hóa lớn” của Nhân loại.

– Trong chiến tranh Thế giới lần thứ hai, Hitle kích động nhân dân Đức (Đặc biệt là nhồi nhét cho lũ trẻ con Đức), cho dân tộc Gecmanh là “dân tộc thượng đẳng”. Do đó chỉ có dân tộc Đức mới có khả năng cai trị thế giới. Đã tập trung tiêu diệt dân tộc Do Thái thông minh và đã phá hủy biết bao công trình tri thức văn minh của nhiều dân tộc khác.

– Ngay Mác cũng mắc sai lầm lớn này. Như phân biệt giai cấp, phân biệt tư bản và xã hội chủ nghĩa để đối đầu nhau, mà trong nhiều bài viết của tôi đã đề cập tới.

Vậy muốn bảo vệ khai thác sử dụng được nguồn trí thức chung đó của Loài Người thì về mặt nhận thức cần:

– Chung, là chấm dứt ngay việc đem sự hiểu biết “ngắn chửa đầy gang” với trí tuệ “mù lòa”, “đần độn” của một vài người, của một nhóm người để “định hướng”, để “áp đặt” thay cho sự hiểu biết “dài hàng vạn-vạn dặm” với trí tuệ sáng suốt của cả một cộng đồng một dân tộc ! (“Trí tuệ mù lòa”, “Trí tuệ đần độn” là các thuật ngữ mới trong tài liệu: “Nhập môn tư duy phức hợp”. “Trí tuệ mù lòa” là nói về mặt khách quan. Còn “Trí tuệ đần độn” là nói về mặt chủ quan).

– Cụ thể, là cần phải khắc phục ngay các tật xấu mà ta thường gặp là đối đầu nhau về nhận thức, về tư tưởng. Và càng không nên chấp nhặt, định kiến, chụp mũ nhau, miệt thị nhau về nhận thức, về tư tưởng. Bởi lẽ, về nhận thức, về tư tưởng thì chỉ có chủ thể mới có thể tự điều chỉnh được, còn khách thể thì không thể nào áp đặt.

Cái tài, cái giỏi của mỗi người là bằng lý lẽ sắc bén của mình thuyết phục được người khác, thức tỉnh được nhân tâm, bảo vệ được cái chân, cái thiện, vạch trần được cái ác, cái gian manh, dựa trên những chuẩn mực đạo đức chung của Loài Người: Vì Con người, vì Loài người.

E – NHẬN THỨC VỀ THẾ GIỚI:

– Hiện nay, nếu ai đó còn phân biệt kinh tế tư bản với kinh tế xã hội chủ nghĩa, thì người đó thực sự là đang ngủ mê giữa ban ngày. Kinh tế thế giới ngày nay, là hội nhập, là hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi và được điều tiết bằng quy luật kinh tế thị trường. Không một nước nào có thể đứng ngoài vòng chi phối chung của nó. WTO là một ví dụ điển hình! Và hiện nay đã xuất hiện TPP, một hình thái hợp tác kinh tế cao hơn.

– Trong thời đại hội nhập mà lý luận vẫn còn đặt vấn đề “ai thắng ai” để chia bè, kết phái, thì những người đó quả là chẳng hiểu gì về thời cuộc! Thậm chí còn mắc một tội lớn: Chống lại quy luật phát triển của loài người! Vì hội nhập và hợp tác là dựa trên cơ sở đồng thuận, là xu thế của thời đại!

F – NHẬN THỨC VỀ ĐỒNG BÀO VÀ BẠN THÙ:

Người cách mạng, là cải tạo con người, cải tạo thế giới. Do đó phải biết thu phục lòng người; giác ngộ, cải tạo con người; biến “thù” thành “bạn”. Nếu chỉ coi những ai ủng hộ mình là “bạn” còn ngược lại là “thù”, thì nhận thức đó chưa xứng tầm với người cách mạng.

G – TỰ RÈN LUYỆN CHO MÌNH TỐT HƠN, TRONG SÁNG HƠN:

Tôi thường đúc rút từ thực tiễn nhiều mặt của cuộc sống và của lịch sử.

  1. a) Từ cuộc sống như bài thơ sau:

THƠ – VĂN ?
(thu hoạch sau khi đọc “Ba phút sự thật” của Phùng Quán)

Thơ – Văn chân chính trên đời,
Dạy con người, biết làm người thẳng ngay.
Nhưng đời lắm chuyện đắng cay,
Muốn thẳng chẳng đặng, muốn ngay khó mà…
Thật hư – Hay dở – Chính tà,
Sự thật – thường “đắng”; Gian tà – “ngọt ngon”.
Khi được chấp pháp cầm quyền,
Chớ ham danh vọng mà quên dân lành.
Vì “dân (làm) chủ” phải đấu tranh,
Truyền lưu sử sách thơm danh đời đời!
Thơ – Văn chân chính trên đời,
Dạy con người, biết làm người thẳng ngay.
Nhưng đời lắm chuyện đắng cay,
Muốn thẳng chẳng đặng, muốn ngay khó mà…
Thật hư – Hay dở – Chính tà,
Nhân dân, Lịch sử vốn là thước đo!

Đỗ Minh Xuân

b)Từ lịch sử như:

Bài học lịch sử quý giá gần đây nhất, là qua sự ra đi vào cõi vĩnh hằng của đồng chí Võ Nguyên Giáp mà tôi đã rút ra một kết luận và cũng là bài học sâu sắc cho mình:

Của cải, danh vọng nó đến nó sẽ đi.
Chỉ có tình người là còn lại mãi mãi!

H – KẾT LUẬN:

Cuộc đời tôi là:

Cả đời tích đức tu nhân!
Kết thành quả phúc cho đời, cho con!
Chẳng màng lợi lộc vàng son!
Chỉ mong xã hội vuông tròn muôn năm!

—–

Thưa ông Thế Anh!

Trên đây, là sự bày tỏ chân thành của tôi!

Mong ông gỡ bỏ bài viết trên mạng, nêu trên! Để khỏi làm mất thời gian, tiền của của người khác và của xã hội vào những việc vô bổ.

Mong rằng, từ nay, chúng ta sẽ là bạn!

Cùng nhau hướng tới mục tiêu chung là:

Yêu nước thương nòi và chỉ làm những việc có lợi cho dân cho nước!

 

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *